- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Phong - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:68/2019/HS-ST Ngày 24-6-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Sái Đức Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Gia
Ông Dương Viết Vĩnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa:Ông Lưu Nguyên Vũ, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2019, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2019/TLST-HS, ngày 22 tháng 5năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2019/HSST-QĐ ngày 12 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên Dƣơng Văn P, sinh năm 1981.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn C (đã chết)và bà Dương Thị L, sinh năm 1944; Vợ là Dương Thị C, sinh năm 1987 và có 01 con sinh năm 2006; Gia đình có 03 anh em bị cáo là con thứ 03;
Tiền án: - Ngày 14/9/2012, bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Ngày 12/11/2015, bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.Xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. (Khối lượng ma túy Heroine tàng trữ trong vụ án là 0,09 gam).Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/02/2018.
Tiền sự: Không.
Bị cáobị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2019 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt)
- Người chứng kiến: Ông Dương Văn T, sinh năm 1966
Nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 28/3/2019, Tổ công tác của Công an huyện P phối hợp cùng Công an xã Đ, huyện P đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm B 1, xã Đ, huyện P phát hiện một nam thanh niên đang đứng ở khu vực khu công nghiệp Đ thuộc xóm B 1, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu cho kiểm tra, nam thanh niên tự khai tên là Dương Văn P, sinh năm 1981, trú tại xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đồng thời P tự giác lấy từ trong túi quần phía trước bên trái đang mặc ra một túi nilon màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng theo P khai nhận đó là ma túy
- loại Heroine của P và giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong số chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của P (ký hiệu A) theo quy định sau đó đưa P về trụ sở Công an huyện P để làm rõ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của P có khối lượng 0,213 gam (Không phẩy hai trăm mười ba gam). Lấy toàn bộ niêm phong vào bì thư (kí hiệu A1) gửi phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên để giám định.
Tại bản kết luận giám định số 601/KL-PC09 ngày 04/04/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: chất bột dạng cục màu trắng trong mẫu (ký hiệu A1)thu giữ của Dương Văn P gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine.
Tại cơ quan điều tra, Dương Văn P khai nhận: Do bản thân là người nghiện chất ma tuý nên thường phải đi mua ma tuý về sử dụng. Khoảng 18 giờ ngày 28/03/2019, P đi một mình từ nhà đến khu vực khu công nghiệp Đ thuộc xóm B 1, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên hỏi và mua được của một người đàn ông không rõ lai lịch địa chỉ một gói ma túy (loại Heroine) được gói ngoài bằng túi nilon màu trắng với giá 100.000 đồng. Mua được ma túy, P cất vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc và đi về thì bị lực lượng Công an bắt quả tang như đã nêu trên.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Dương Văn P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan điều tra.
Cáo trạng số 82/CT-VKSPB ngày 17 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P đã truy tố Dương Văn P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận: Giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị với Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Dương Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Dương Văn P từ 36 đến 42 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 0,184 gam ma túy Heroine được hoàn lại sau giám định (niêm phong trong bì thư kí hiệu A1).
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai đó có căn cứ chấp nhận vì đúng như cáo trạng truy tố, phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, sơ đồ hiện trường, lời khai của người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định:
Hồi 18 giờ 30 phút ngày 28/3/2019, tại khu vực xóm B 1, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo Dương Văn P đã có hành vi tàng trữ trên người 01 gói ma túy loại Hêrôin khối lượng 0,213 gam (Không phẩy hai trăm mười ba gam), mục đích để sử dụng cho bản thân, nhưng P chưa kịp sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Hành vi của Dương Văn P có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Nội dung Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Hêrôin...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự xã hội ở địa phương là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt.
Xét tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, mẹ đẻ của bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tình tiết tăng nặng: Tại bản hình sự sơ thẩm số 81/2012/HSST, ngày 14/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện P xử phạt bị cáo 30 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đến năm 2015, bị cáo lại có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy khối lượng thu giữ 0,09 gam ma túy Heroine. Do đó, bản hình sự sơ thẩm số 81/2012/HSST, ngày 14/9/2012 là dấu hiệu định tội của bản án hình sự sơ thẩm số 107/2015/HSST, ngày 12/11/2015. Vì vậy, không xác định hành vi phạm tội lần này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm, Hội đồng xét xử xác định bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xét nhân thân, tính chất mức độ tội phạm và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc một mức án tương ứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
.Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, phạm tội không nhằm mục đích lợi nhuận nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đối với 01 bì niêm phong kí hiệu A1 bên trong có chứa 0,184 gam ma túy (loại Heroine) được hoàn lại sau giám định không có giá trị để sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
. Xét đề nghị của Đại diện viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo về tội danh, về xử lý vật chứng vụ án, án phí là đúng với pháp luật cần chấp nhận. Tuy nhiên, về mức hình phạt tù đề nghị đối với bị cáo là cao. Bởi lẽ, Hội đồng xét xử thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có mẹ đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3, tại phiên tòa bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo với mức án thấp để cải tạo thành công dân tốt sớm trở về với gia đình và cộng đồng. Do đó, khi quyết định mức hình phạt Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc mức hình phạt tù thấp hơn với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, nhằm mở lượng khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo và phù hợp với chính sách hình sự của Nhà nước.
.Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, ra quyết định tạm giam bị cáo Dương Văn P với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
.Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc bị cáo phải chịu một khoản án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
.Về quyền kháng cáo: Bị cáocó quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ, áp dụng pháp luật:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự;
-Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 326, Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn Pg phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt chính: Xử phạt Dương Văn P 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 3 năm 2019.
3. Ra quyết định tạm giam bị cáo Dương Văn P với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
4. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu hủy01 bì niêm phong kí hiệu A1 bên trong có chứa 0,184 gam ma túy Heroine được hoàn lại sau giám định.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/5/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện P).
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Dương Văn P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
6. Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo Dương Văn P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND huyện P; - Cơ quan điều tra CA huyện P; - CQTHAHS Công an huyện P; - CC T.H.A DS huyện P; - Bị cáo; - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Lưu: HS, VP, T.H.A HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sái Đức Trung |