vanban.org

Bản án 68/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị O được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Hoài T, sinh ngày 28/02/2003 và cháu Nguyễn Ngọc Lan F, sinh ngày 10/11/2004 cho chị Nguyễn Thị O trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con chị Nguyễn Thị O không yêu cầu nên không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị O - Nguyễn Văn C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị O được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 12-9-2019
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Thanh Hường

Bà Huỳnh Thị Mỹ Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ - Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 592/2018/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2018 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2019/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị O, sinh năm: 1973

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm: 1971

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị O trình bày: chị và anh Nguyễn Văn C tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 1994 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện E, tỉnh Đồng Nai. Đây là kết hôn đầu của anh chị. Cuộc sống chung của anh chị hạnh phúc đến năm 2001 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh C không lo toan được việc nhà mà thường uống rượu và ghen tuông vô cớ rồi về đánh đập chị. Gia đình hai bên và vợ chồng đã nhiều lần đã hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện nay, mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng đã không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh C.

Về con chung: Anh chị có 03 con chung là: Nguyễn Minh H, sinh ngày 24/9/1995; cháu Nguyễn Ngọc Hoài T, sinh ngày 28/02/2003 và cháu Nguyễn Ngọc Lan F, sinh ngày 10/11/2004. Con chung Nguyễn Minh H hiện đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Hoài T và cháu Nguyễn Ngọc Lan F. Chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: anh chị không có nợ chung.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn C đã được triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án sơ thẩm. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị O chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn C không chấp hành các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị O. Chị Nguyễn Thị O được ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Hoài T, sinh ngày 28/02/2003 và cháu Nguyễn Ngọc Lan F, sinh ngày 10/11/2004 cho chị Nguyễn Thị O trực tiếp nuôi dưỡng đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn C. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn C đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mă ăt lần thứ hai, nên căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bô ă luâ ăt Tố tụng dân sự xét xử vắng mă ăt anh C là phù hợp.

Chị Nguyễn Thị O có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị O là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Văn C tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện E, tỉnh Đồng Nai nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: Chị Nguyễn Thị O khai cuộc sống chung của anh chị hạnh phúc đến năm 2001 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh C không lo toan được việc nhà mà thường uống rượu và ghen tuông vô cớ rồi về đánh đập chị. Gia đình hai bên và vợ chồng đã nhiều lần đã hòa giải nhưng không có kết quả. Việc chị O và anh C không còn sống chung với nhau là có, đã được chính quyền địa phương xác nhận tại biên bản xác minh ngày 06/8/2019 (bút lục 38). Anh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, cho thấy anh C thờ ơ, không muốn hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ đó cho thấy, tình trạng hôn nhân của chị O và anh C mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị O là phù hợp với Điều 56 Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị O yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Hoài T, sinh ngày 28/02/2003 và cháu Nguyễn Ngọc Lan F, sinh ngày 10/11/2004. Xét thấy, cháu Hoài T và cháu Lan F là con gái, có nguyện vọng được sống với chị O nên giao cháu Hoài T và cháu Lan F cho chị O nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Đối với con chung Nguyễn Minh H đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: chị O không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con do vậy không giải quyết.

Về tài sản chung: Chị O trình không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh C đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc nên không có lời khai do vậy không giải quyết.

Về nợ chung: Chị O trình bày anh chị không có nợ chung. Anh C đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc nên không có lời khai do vậy, không giải quyết.

Về án phí: Chị O phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35; Điều 39, Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị O được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Hoài T, sinh ngày 28/02/2003 và cháu Nguyễn Ngọc Lan F, sinh ngày 10/11/2004 cho chị Nguyễn Thị O trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con chị Nguyễn Thị O không yêu cầu nên không giải quyết.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo vệ.

Chị Nguyễn Thị O trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng không được cản trở việc thăm non, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của anh Nguyễn Văn C.

Anh Nguyễn Văn C được quyền thăm nom con chung nhưng không gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của chị Nguyễn Thị O. Khi cần thiết, chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Văn C được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: không giải quyết.

4. Về nợ chung: không giải quyết.

5. Về án phí: chị Nguyễn Thị O phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị O đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc theo biên lai thu số 003472 ngày 14/12/2018 được tính trừ vào án phí.

Chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Văn C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ