- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng dịch vụ — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng dịch vụ"
- Tòa quyết gì? [1] - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Xuân N. Tuyên bố Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 17/2014/HĐ-DVPL ngày 06/9/2014 giữa ông Phạm Xuân N, bà Hà Thị T với Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H chấm dứt trước thời hạn kể từ ngày 22/02/2016.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2019/DS-ST Ngày 22/8/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đình Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hưng và ông Nguyễn Đức Trung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột: Ông Lê Viết Bình
- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2018/TLST-DS ngày 22 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2019/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Xuân N.
Trú tại: Tổ A khối B, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk; có mặt.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L - Luật sư Văn phòng luật sư Đ, Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: Đường C, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk; có mặt.
- Bị đơn: Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh H. Chức vụ: Trưởng văn phòng.
Địa chỉ: Đường X, phường N, thị xã G, tỉnh Đăk Nông; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Hoài Q.
Địa chỉ: Đường A, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk; vắng mặt.
(Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H và người đại diện theo ủy quyền ông Phạm Hoài Q có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hà Thị T.
Trú tại: Tổ A khối B, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk; vắng mặt.
(Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người làm chứng: Bà Hoàng Thị V. Sinh 1936.
Trú tại: Tổ A khối B, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Xuân N và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 07/12/2012, Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) thành phố Buôn Ma Thuột ban hành Quyết định số 4973/QĐ-UBND “Về việc phê duyệt phương án hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Xây dựng cơ sở hạ tầng khu dân cư Km4- Km5, phường Tân An, thành phố Buôn Ma Thuột”. Theo đó gia đình ông N chỉ được bồi thường về tài sản, hoa màu và vật kiến trúc với số tiền là: 205.695.082 đồng. Còn diện tích đất nhà ở và vườn không được bồi thường.
Việc UBND thành phố Buôn Ma Thuột thu hồi 2.831 m2, nhưng lại không bồi thường về đất cho gia đình ông N là trái với quy định của pháp luật.
Vào ngày 06/9/2014, qua sự giới thiệu, tôi có ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý số: 17/2014/HĐ-DVPL với Văn phòng Luật sư Thanh H để thực hiện công việc khiếu nại hành chính đối với phương án bồi thường, hỗ trợ đã phê duyệt theo Quyết định số: 4973/QĐ-UBND, ngày 07 tháng 12 năm 2012 của UBND Tp. Buôn Ma Thuột. Theo yêu cầu của luật sư chúng tôi đã giao hết các loại văn bản, tài liệu là bản chính để luật sư thực hiện công việc nhưng luật sư H không lập biên bản giao nhận.
Sau khi ký hợp đồng dịch vụ pháp lý văn phòng Luật sư Nguyễn Thanh H chỉ làm cho chúng tôi một số công việc như sau:
Ngày 02/12/2014, Luật sư Nguyễn Thanh H làm đơn khiếu nại lần đầu lên Chủ tịch UBND thành phố Buôn Ma Thuột. Kết quả ngày 27/02/2015 Chủ tịch UBND Tp. Buôn Ma Thuột ban hành Quyết định số: 694/QĐ-UBND giải quyết đơn khiếu nại, theo đó không chấp nhận đơn khiếu nại. Ngày 19/3/2015, Luật sư Nguyễn Thanh H tiếp tục làm đơn khiếu nại lên Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk (khiếu nại lần 2).
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, Văn phòng Luật sư Nguyễn Thanh H đã vi phạm N trọng hợp đồng, không nhiệt tình, không tích cực trong công việc, thiếu trung thực và không tôn trọng chúng tôi cụ thể như sau:
Sau khi chúng tôi gửi đơn khiếu nại, các cấp có thẩm quyền tổ chức làm việc, gặp gỡ đối thoại rất nhiều buổi phần lớn luật sư Nguyễn Thanh H vắng mặt mà chỉ có mặt một buổi làm việc, theo đó Luật sư Nguyễn Thanh H vi phạm điểm d khoản 2 Điều 1 của Hợp đồng.
Theo quy định tại Điều 3, khoản 1 “ Chi phí trong quá trình giải quyết công việc, do bên B tự bỏ ra”, nhưng luật sư Nguyễn Thanh H đã cử người tới thu của gia đình tôi 750.000 đồng tiền chi phí mà không ghi phiếu thu.
Quan trọng nhất là vào ngày 01/6/2015, UBND thành phố Buôn Ma Thuột ra thông báo số 161/TB- UBND về việc di dời tài sản, vật kiến trúc và cây cối hoa màu ra khỏi khu đất đã có Quyết định thu hồi…. Nhận được thông báo này chúng tôi rất hoang mang, chúng tôi đã tới đã tới UBND thành phố yêu cầu để gặp lãnh đạo để đề đạt ý kiến. Khi lãnh đạo có lịch hẹn để lãnh đạo thành phố cùng với ban ngành có cuộc họp để giải quyết thắc mắc của tôi. Tôi liền báo cho ông Nguyễn Thanh H đến để dự họp, có tiếng nói của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tôi. Thì ông H từ chối không đến dự, bỏ mặc chúng tôi. Như vậy, luật sư Nguyễn Thanh H đã vi phạm khoản 1, Điều 4 hợp đồng.
Ngoài vi phạm hợp đồng thì luật sư Nguyễn Thanh H còn vi phạm về đạo đức, cụ thể: Chửi bới chúng tôi khi chúng tôi không ký văn bản có lợi cho ông H, ông H chửi tôi là “ Lũ già điên ngu xuẩn, rồi chúng mày sẽ biết tay tao”.
Với nhiều lí do tôi nêu ở trên, xét thấy nếu thực hiện tiếp hợp đồng sẽ kéo dài và công việc không mang lại kết quả gì. Vì vậy, ngày 21/02/2016, chúng tôi đã làm thông báo gửi Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H về việc “Chấm dứt hợp đồng dịch vụ pháp lý và đại diện ủy quyền trước thời hạn kể từ ngày 22/02/2016”.
Khi nhận được thông báo của chúng tôi, ngày 29/02/2016 luật sư Nguyễn Thanh H gửi công văn phản hồi, tỏ thái độ phản kháng, đe dọa không chấp nhận, không thương lượng với chúng tôi. Như vậy luật sư Nguyễn Thanh H không tôn trọng chúng tôi và không tôn trọng pháp luật.
- Ngày 24/10/2016 Luật sư Nguyễn Thanh H gửi tiếp thông báo về việc đề nghị phối hợp thực hiện công việc khiếu kiện.
- Ngày 23/12/2016 chúng tôi đã gửi thư trả lời ông Nguyễn Thanh H rằng Hợp đồng dịch vụ hợp đồng pháp lý đã đương nhiên chấm dứt từ ngày 22/02/2016 và tôi không có nguyện vọng tiếp tục hợp tác với văn phòng nữa.
Trên thực tế Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H đã chấm dứt công việc với tôi từ ngày 22/02/2016. Từ đó đến nay tôi và ông Nguyễn Thanh H không có bất cứ quan hệ công việc gì.
Nay tôi yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng dịch vụ pháp lý số: 17/2014/HĐ-DVPL với Văn phòng Luật sư Thanh H đã bị đơn phương chấm dứt trước thời hạn kể từ ngày 22/02/2016. Tôi đồng ý trả tiền thù lao viết đơn cho Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H.
- Bị đơn đại diện Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H và người được ủy quyền tham gia tố tụng trình bày:
Năm 2012, UBND thành phố Buôn Ma Thuột thực hiện dự án xây dựng Công trình: Cơ sở hạ tầng khu dân cư Km4-Km5, phường Tân An, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Hộ ông N và bà T thuộc diện bị giải tỏa đất đai, nhà cửa trong dự án này. Theo Quyết định số: 4973/QĐ-UBND, ngày 07 tháng 12 năm 2012 của UBND TP. Buôn Ma Thuột về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ thì hộ ông Phạm Xuân N được bồi thường, hỗ trợ 205.695.082 đồng. Mặc dù không đồng ý với phương án bồi thường, hỗ trợ nhưng trong khoảng thời gian gần 02 năm (2013-2014) ông N, bà T đã không thực hiện quyền khiếu nại theo quy định tại Luật Khiếu năm 2011 (thực chất vụ việc không còn thời hiệu khiếu nại).
Khoảng nửa cuối năm 2014, thông qua giới thiệu, ông N biết và nhiều lần liên lạc nhờ Văn phòng luật sư Thanh H bảo vệ quyền lợi. Ngày 06/09/2014, Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý số: 17/2014/HĐ-DVPL với ông N và bà T để thực hiện công việc khiếu nại hành chính đối với phương án bồi thường, hỗ trợ đã phê duyệt theo Quyết định số: 4973/QĐ-UBND, ngày 07 tháng 12 năm 2012 của UBND Tp. Buôn Ma Thuột. Hai bên thỏa thuận, thù lao được tính bằng 50% (Năm mươi phần trăm) giá trị lợi ích được phê duyệt bổ sung phát sinh sau ngày ký kết hợp đồng; thời điểm thanh toán là thời điểm có phương án phê duyệt bổ sung bồi thường, hỗ trợ và được thông báo nhận tiền bồi thường.
Sau khi ký kết Hợp đồng, vào tháng 9, 11 và 12/2014, Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H đã soạn thảo đơn khiếu nại và trực tiếp lên Chủ tịch UBND thành phố Buôn Ma Thuột. Ngày 27/02/2015, Chủ tịch UBND Tp. Buôn Ma Thuột ban hành Quyết định số: 694/QĐ-UBND giải quyết đơn khiếu nại của ông N, bà T, theo đó không chấp nhận đơn khiếu nại của ông N, bà T. Ngày 21/3/2015, Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H tiếp tục soạn đơn khiếu nại lần hai và gửi lên Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk (khiếu nại lần 2). Ngày 03/02/2016, UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức đối thoại với các hộ dân, Luật sư H trực tiếp tham gia phiên đối thoại này. Trong phiên đối thoại đại diện phía UBND tỉnh Đắk Lắk đồng ý chấp nhận một số nội dung khiếu nại của ông N, bà T. Như vậy, mặc dù đã hết thời hiệu khiếu nại, nhưng Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H đã phục hồi được quyền khiếu kiện tiếp theo của ông N, bà T, làm tiền để để thực hiện các quyền tiếp theo. Đây là thắng lợi bước đầu và quan trọng trong quá trình thực hiện dịch vụ pháp lý đối với vụ việc này.
Mặc dù được phê duyệt bổ sung, nhưng nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của ông N, bà T vẫn chưa được giải quyết đúng, cần phải khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, nên ngày 24/10/2016 Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H đã có Thông báo đôn đốc, yêu cầu tiếp tục hợp tác để thực hiện hợp đồng nhưng ông N, bà T đã có thư trả lời đề ngày 23/12/2016 rằng: Hợp đồng dịch vụ pháp lý đã đương nhiên chấm dứt và không chịu hợp tác. Mặc dù chúng tôi có Hợp đồng dịch vụ pháp lý, có giấy ủy quyền hợp pháp của ông N, bà T nhưng chúng tôi không thể khởi kiện vụ án hành chính khi họ không phối hợp để ký đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật tố tụng hành chính năm 2010. Nên kể từ đó chúng tôi không thể tiếp tục cung cấp dịch vụ pháp lý cho ông N, bà T. Vấn đề này lỗi hoàn toàn thuộc về ông N, bà T, Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H không vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng.
Tại thời điểm ông N, bà T thông báo chấm dứt hợp đồng thì cơ bản các công việc cung cấp dịch vụ pháp lý đã gần hoàn thành (đã giải quyết khiếu nại 02 cấp chỉ còn thủ tục khởi kiện hành chính). Lý do ông N, bà T ra thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng là nhận thấy kết quả giải quyết khiếu nại thành công, sợ phải thanh toán thù lao cho luật sư với số tiền lớn nên họ mới ra Thông báo chấm dứt hợp đồng. Vì vậy, Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đối với yêu cầu phản tố ngày 19/4/2018, Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H yêu cầu ông N, bà T phải bồi thường số tiền theo Hợp đồng dịch vụ pháp lý là 316.000.000 đồng. Tuy nhiên, ngày 15/11/2018, Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H đã có đơn rút đơn khởi kiện phản tố và Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác khi đủ điều kiện khởi kiện.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Hà Thị T trình bày:
Tôi là vợ cũ của ông Phạm Xuân N, đã ly hôn năm 2007 nhưng chưa giải quyết về phần tài sản. Tôi đồng ý với lời trình bày và ý kiến, yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Xuân N. Tôi không có ý kiến và yêu cầu gì khác.
- Người làm chứng bà Hoàng Thị Vinh trình bày:
Tôi cũng là người thuê anh H để giúp tôi giải quyết vụ việc tiền bồi thường thu hồi đất, ông N, bà T cũng thuê Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H giải quyết. Trong quá trình Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H thực hiện công việc của tôi và của ông N, bà T, chính ông H là người không thực hiện những quy định, cam kết trong hợp đồng, ông H là người vi phạm hợp đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:
+ Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 và 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên bố Hợp đồng dịch vụ pháp lý số: 17/2014/HĐ-DVPL giữa Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H ông Phạm Xuân N và bà Hà Thị T chấm dứt trước thời hạn.
Đình chỉ yêu cầu phản tố của Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H về việc yêu cầu bà Phạm Xuân N phải trả số tiền 316.000.000 đồng tiền công sức, chi phí hợp lý theo hợp đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Hợp đồng dịch vụ” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H yêu cầu Tòa án triệu tập người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Duyên. Tuy nhiên, bị đơn không cung cấp được cho Tòa án địa chỉ của bà Duyên, do vậy Toà án không triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định để bà Duyên tham gia tố tụng giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án: Ông Phạm Xuân N, bà Hoàng Thị T và Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H trong quá trình tham gia tố tụng đều thừa nhận vào ngày 06/9/2014, hai bên có ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 17/2014/HĐ-DVPL với Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H. Theo đó, Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H sẽ trợ giúp pháp lý cho ông N, bà T trong vụ việc khiếu kiện hành chính liên quan đến khoản hỗ trợ bồi thường thuộc dự án xây dựng cơ sở hạ tầng khu dân cư Km4-Km5 phường Tân An, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Phạm vi công việc thuộc Điểm 2, Điều 1 của Hợp đồng; thời hạn kể từ khi ký kết đến khi kết thúc hợp đồng; thù lao ông N, bà T phải trả cho Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H là 50% giá trị lợi ích bảo vệ được.
Xét Hợp đồng được giao kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các bên tham gia đều có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật, nội dung và hình thứ hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật, nên có hiệu lực pháp luật.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, theo ông N thì Văn phòng Luật sư Nguyễn Thanh H đã vi phạm N trọng hợp đồng, không nhiệt tình, không tích cực trong công việc, thiếu trung thực, không tôn trọng và có những lời lẽ xúc phạm ông N, bà T. Sự thiếu trách nhiệm được thể hiện cụ thể nhất là ngày 01/6/2015, khi lãnh đạo UBND thành phố Buôn Ma Thuột cùng với ban ngành có cuộc họp để giải quyết yêu cầu của ông N, bà T, thì mặc dù ông N báo cho ông Nguyễn Thanh H đến để dự họp, có tiếng nói của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông N, nhưng ông H từ chối không đến dự, bỏ mặc ông N, bà T. Vì vậy, ngày 21/02/2016, ông N đã gửi thông báo cho Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H về việc “Chấm dứt hợp đồng dịch vụ pháp lý và đại diện ủy quyền trước thời hạn kể từ ngày 22/02/2016”.
Sau khi nhận được thông báo, ngày 29/02/2016, Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H gửi công văn phản hồi không chấp nhận. Đến ngày 24/10/2016, Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H gửi tiếp thông báo về việc đề nghị phối hợp thực hiện công việc khiếu kiện, nhưng ông N đã không chấp nhận và ngày 23/12/2016 ông N đã gửi văn bản trả lời là Hợp đồng dịch vụ pháp lý đã đương nhiên chấm dứt từ ngày 22/02/2016 và ông N không có nguyện vọng tiếp tục hợp tác với văn phòng nữa. Như vậy, Hợp đồng dịch vụ pháp lý đã chấm dứt từ ngày 22/02/2016.
Nhưng theo Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H thì sau khi ký kết Hợp đồng, Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H thực hiện việc khiếu nại 2 lần lên Chủ tịch UBND thành phố Buôn Ma Thuột. Kết quả là mặc dù vụ việc của ông N, bà T đã hết thời hiệu khiếu nại, nhưng Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H đã làm cho việc khiếu nại được chấp nhận, đồng thời phục hồi được quyền khởi kiện cho ông N, bà T. Đây là vấn đề quyết định cho việc quyền lợi của ông N, bà T được UBND thành phố Buôn Ma Thuột thực hiện sau này.
Ông N, bà T nhận thấy kết quả giải quyết khiếu nại thành công, sợ phải thanh toán thù lao cho Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H với số tiền lớn (50%) nên ông N, bà T mới đơn phương Thông báo chấm dứt hợp đồng. Mặc dù sau đó, Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H nhiều lần thông báo đôn đốc, yêu cầu tiếp tục hợp tác để thực hiện hợp đồng nhưng ông N, bà không chịu hợp tác nên Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H không thể tiếp tục cung cấp dịch vụ pháp lý cho ông N, bà T. Vấn đề này lỗi hoàn toàn thuộc về ông N, bà T, Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H không vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù cả nguyên đơn và bị đơn đều không thừa nhận lỗi của mình dẫn đến vi phạm hợp đồng và hợp đồng bị chấm dứt, nhưng các đương sự đều thừa nhận Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 17/2014/HĐ-DVPL đã bị ông N, bà T đơn phương chấm dứt trước thời hạn từ ngày 22/02/2016. Từ đó đến nay, Hợp đồng không được tiếp tục thực hiện. Như vậy, Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 17/2014/HĐ-DVPL đã chấm dứt trước thời hạn từ ngày 22/02/2016 là có cơ sở.
Mặt khác, theo khoản 1 Điều 525 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “1. Trong trường hợp việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho bên thuê dịch vụ thì bên thuê dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nhưng phải báo cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý; bên thuê dịch vụ phải trả tiền công theo phần dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện và bồi thường thiệt hại”. Ông N nhận thấy việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không có lợi cho mình, nên ngày 22/02/2016 ông N, bà T đã có văn bản chấm dứt hợp đồng dịch vụ pháp lý với Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H. Nay ông N yêu cầu tuyên bố Hợp đồng dịch vụ pháp lý bị đơn phương chấm dứt trước thời hạn từ ngày 22/02/2016, Hội dồng xét xử xét thấy có căn căn cứ, cần chấp nhận.
Đối với việc giải quyết hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng, ngày 19/4/2018 Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H có đơn khởi kiện phản tố, yêu cầu ông N, bà T phải bồi thường số tiền theo Hợp đồng dịch vụ pháp lý là 316.000.000 đồng. Theo kết quả xác minh ngày 10/01/2019 tại Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Buôn Ma Thuột thì hiện nay Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Buôn Ma Thuột đang phối hợp với ban ngành để khảo sát giá đất để tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phê duyệt, lập phương án bồi thường cho các hộ dân (trong đó có hộ ông N). Vì vậy, hộ ông N chưa được bồi thường. Đồng thời, ngày 15/11/2018, Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H đã có đơn rút đơn khởi kiện. Do vậy, căn cứ Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ yêu cầu phản tố của Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H và tách thành vụ án khác khi có yêu cầu.
Đối với yêu cầu của bị đơn, yêu cầu triệu tập người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Ngô Thị Duyên, Tòa án đã triệu tập theo địa chỉ do bị đơn cung cấp nhưng không triệu tập được. Mặt khác, theo nội dung Thư thông báo về việc chấm dứt hợp động dịc vụ pháp lý và đại diện ủy quyền trước thời hạn ngày 21/02/2019 của ông N cũng đã thông báo về việc chấm dứt việc ủy quyền đối với bà Duyên từ ngày 22/02/2019. Do vậy, việc không triệu tập được bà Duyên tham gia tố tụng giải quyêt vụ án không làm ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 161, Điều 217, khoản 1 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 518, Điều 525 Bộ luật dân sự 2005.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Xuân N. Tuyên bố Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 17/2014/HĐ-DVPL ngày 06/9/2014 giữa ông Phạm Xuân N, bà Hà Thị T với Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H chấm dứt trước thời hạn kể từ ngày 22/02/2016.
- Đình chỉ yêu cầu phản tố của Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H về việc yêu cầu ông Phạm Xuân N phải trả số tiền 316.000.000 đồng tiền bồi thường theo hợp đồng; tách thành vụ án khác khi Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H có đơn yêu cầu.
[2] Về án phí: Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 7.902.000 đồng tạm ứng án phí do ông Nguyễn Thanh H đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0003782 ngày 15/5/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột. Sau khi khấu trừ, Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 7.602.000 đồng.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn, người liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt niêm yết hợp lệ
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thị hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Đắk Lắk; -VKSND tỉnh, Tp. BMT; -THADS Tp. BMT; -Đương sự. -Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) PHAN ĐÌNH HẢI |