- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cứ A C - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cứ A C (Cứ A T) phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự giải; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2018/HSST Ngày 13/7/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Nông Văn Thịnh
- Các hội thẩm nhân dân: Cầm Văn Tổ; Nguyễn Đức Việt
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huế - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Mai Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2018/HS-ST ngày 05/06/2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 81/2018/HSST-QĐ ngày 15/06/2018 đối với bị cáo sau:
Họ và Tên: Cứ A C. Tên gọi khác: Cứ A T; Sinh ngày 15.8.1980, tại Mƣờng La, Sơn La. Nơi HKTT và nơi ở: Bản A, xã A1, huyện Mƣờng La, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Mông. Tôn giáo: Không. Chức vụ ĐTĐP: Không.
Tiền án: Bản án số 83/2013/HS-ST ngày 25.09.2013 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Mƣờ ng La, tỉnh Sơn La xử phạt Cứ A C 36 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 292/HSST ngày 28/12/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy (đƣơng nhiên xóa án tích)
Con ông: Cứ A Q, sinh năm 1944 (đã chết năm 2012) và bà: Sùng Thị Q1, sinh năm 1945 (đã chết năm 2001).
Vợ Phàng Thị Q3, sinh năm 1982. Bị cáo có 06 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2017.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10.01.2018 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng tháng 2/2017, Cƣ́ A C đến thị trấn Sông Mã chơi và quen biết trao đổi số điện thoại nhờ L tìm mua ma túy cho C. Đến khoảng tháng 4/2017, C nhiều lần go ̣i điê ̣n cho L nhƣng không liên la ̣c đƣợc nên đa xõ ́a số điê ̣n thoa ̣i của L. Đến khoảng 10 giờ ngày 09.01.2018, C đang ở nhà thi L gọi điện đến hỏi bán
̀ ma túy cho C, C đồng ý mua 10.000.000 VNĐ Heroine để sƣ̉ du ̣ng cho bản thân và hẹn trao đổi ma túy tại khu vƣ̣c xa Huỗ
̉i Mô ̣t , huyê ̣n Sông Mã, tỉnh Sơn La. Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 09.01.2018, C đem theo 12.145.000 VNĐ điều khiển xe máy BKS: 26K4 – 9372 đi tƣ̀ nhà đến khu vƣ̣c thi ̣ trấn Sông Mã, huyê ̣n Sông Ma rỗ ̀i vào 01 cƣ̉ a hàng điê ̣n thoa ̣i (không rõ đi ̣a chỉ ) mua 01 chiếc điê ̣n thoại nhãn hiệu MASSTEL mục đích cho con gái là Cƣ́ Thi ̣ Gâu sƣ̉ du ̣ng rồi tiếp tục đi đến khu vực xã Huổi Một gọi điện cho L, L bảo C tiếp tu ̣c đi theo đƣờ ng nhƣ̣a hƣớ ng huyê ̣n Sốp Cô ̣p , tỉnh Sơn La , C đi thêm khoảng 15 km thi gă ̣p L
̀ đƣ́ ng ở ven đƣờ ng . C đƣa cho L 10.000.000 VNĐ và nhận 01 gói ni lon mầu vàng bên trong chứa Heroin sau đó L cho Cháy thêm 22 viên Hồng phiến , L hƣớ ng dẫn C giấu số ma túy vào trong gƣơng chiếu hâ ̣u của xe. C cầm gói ma túy vừa mua điều khiển xe vào rừng chia nhỏ số Heroin thành 03 phần rồi dùng các mảnh ni lon C mang theo gói la ̣i nhƣ đa nêu trên (có 01 gói đƣợc gói kèm̃ theo bên trong 22 viên hồng phiến ) sau đó C giấu 02 gói vào 02 gƣơng chiếu hâ ̣u của xe máy (ở giƣ̃a phần kinh và phần nhƣ̣a), 01 gói giấu trong gƣơng chiếu
́ hâ ̣u cất trong cốp xe . Sau đó C điều khiển xe đi về đến đoa ̣n đƣờ ng thuô ̣c đi ̣a phâ ̣n xa Nã ̀ Ớ t , huyê ̣n Mai Sơn thi bi ̣ tổ công tác Đồn công an Nà Ớ t phát hiê ̣n
̀
bắt quả tang , thu giƣ̃ và niêm phong t oàn bộ vật chứng . Hồi 04 giờ 00 ngày 10.01.2018 tổ Công tác Đồn công an Nà Ớ t , huyê ̣n Mai Sơn , tỉnh Sơn La phát hiê ̣n, khám xét và bắt quả tang Cƣ́ A C đang tàng trữ trái phép chất ma túy trong 03 gƣơng chiếu hậu của xe mô tô BKS: 26K4 – 9372 gồm: 01 gói chứa 22 viên mầu hồng mỗi viên điều có ký hiê ̣u WY và 01 gói ni lon mầu trắng chứa chất bô ̣t nén mầu trắng (phát hiện ở gƣơng chiếu hậu bên trái); 01 gói bên trong có 01 gói ni lon mầu hồng chƣ́ a chất bô ̣t mầu trắng , 01 gói ni lon mầu trắng bên trong chƣ́ a 03 gói gồm 02 gói ni lon mầu hồng chứa chất bột mầu trắng và 01 gói ni lon mầu trắng chƣ́ a chất bô ̣t mầu trắng (nghi là hêrôin phát hiê ̣n trong gƣơng chiếu hâ ̣u bên phải ); 01 gói đƣợc gói bằng ni lon 3 mầu xanh, vàng, hồng bên trong chƣ́ a chất bô ̣t nén mầu trắng nghi là hêrôin phát hiê ̣n trong gƣơng để trong cốp xe. Tổ công tác thu giƣ̃ , niêm phong vâ ̣t chƣ́ ng nêu trên và : 02 điê ̣n thoại di đô ̣ng nhan hiê ̣̃
u KECHAODA và nhan hiê ̣̃
u MASSTEL N 435; 01 ví giả da bên trong có 1.145.000 VNĐ, 01 đăng ký xe BKS : 26K4 – 9372, 01 giấy CMTND mang tên Cƣ́ A C, 01 giấy phép lái xe mô tô của Cƣ́ A C; 01 xe máy nhan hiê ̣̃
u HONDA WAVE RSX mầu xanh , đen BKS: 26K4 – 9372, số khung: 629356, số máy: 2139539; 01 bâ ̣t lƣ̉ a ga mầu vàng thu trong túi quần bên phải của C. Tổ công tác đã lập biên bản về vụ việc.
Ngày 10.01.2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn phối hợp với phòng kỹ thuật hình sự Công an Tỉnh Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh xác định trọng lƣợng, trích rút mẫu giám định vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Cƣ́ A C. Kết quả:
- 22 viên mầu hồng nghi ma túy tổng hợp (hồng phiến ) trong gói vâ ̣t chƣ́ ng thu giƣ̃ khi bắt quả tang có khối lƣợng là 2,07 gam, trích rút 0,48 (05 viên), ký hiệu M1 để giám định. Vâ ̣t chƣ́ ng còn la ̣i là 1,59 gam ký hiê ̣u T1 đƣợc niêm phong bảo quản theo quy đi ̣nh.
- Chất bô ̣t mầu trắng nghi Heroin phát hiê ̣n trong gƣơng chiếu hâ ̣u bên trái của xe máy thu giữ khi bắt quả tang có khối lƣợng là 26,33 gam, trích rút 0,64 gam, ký hiệu M2 để giám định. Vâ ̣t chƣ́ ng còn la ̣i là 25,69 gam, ký hiệu T2 đƣợc niêm phong bảo quan theo quy đi ̣nh.
- Tổng Khối lƣợng chất bô ̣t mầu trắng nghi Heroin trong các gói vâ ̣t
chƣ́ ng phát hiê ̣n ta ̣i gƣơng chiếu hâ ̣u bên phải của xe máy thu giƣ̃ khi bắt quả tang là 26,27 gam, trích rút 1,84 gam, ký hiệu M3 để giám định, Vâ ̣t chƣ́ ng còn lại là 24,43 gam ký hiê ̣u T3 đƣợc niêm phong bảo quản theo quy đi ̣nh.
- Tổng khối lƣợng chất bô ̣t nén mầu trắng nghi Heroin trong các gói vâ ̣t chƣ́ ng phát hiê ̣n ta ̣i gƣơng chiếu hâ ̣u để trong cốp xe máy thu giƣ̃ khi bắ
t quả tang có tro ̣ng lƣợng là 36,37 gam trich rút 1,04 gam, ký hiệu M 4 để làm mẫu
́
giám định , vâ ̣t chƣ́ ng còn la ̣i là 35,72 gam, ký hiệu T 4 đƣợc niêm phong bảo quản theo quy định.
Ngày 17.01.2018 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ban hành bản kết luận giám định số 196/KLMT kết luận:
+ Mẫu vâ ̣t gƣ̉ i giám đi ̣nh ký hiê ̣u M
1 là chất ma túy ; loại chất Methampphetamine, khối lƣợng của mẫu gửi giám định là 0,48 gam
+ Mẫu vâ ̣t gƣ̉ i giám đi ̣nh ký hiê ̣u M 2, M3, M4 là chất ma túy ; Loại chất Heroine; Khối lƣợng của mẫu gửi giám định là M 2=0,64gam, M3=1,84gam, M4=1,04 gam.
+ Tổng khối lƣợng chất ma túy thu giƣ̃ là
2,07 gam; Loại chất Methamphetamine và 88,97 gam; Loại chất Heroine.
Tại bản cáo trạng số: 50/CT-VKSMS ngày 05/06/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố Cứ A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Cứ A C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo nhƣ nội dung đã khai tại Cơ quan điều tra và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên tòa, sau khi trình bày lời luận tội đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Cứ A C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm b Khoản 3, khoản 5 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2, 3 Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Cứ A C từ 14 năm đến 15 năm tù giam.
Phạt bổ sung bị cáo từ 1.000.000VNĐ đến 2.000.000VNĐ.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Vật chứng còn lại 1,59 gam methaphetamine, 85,84 gam heroin, hộp bao bì niêm phong tang vật, mảnh nilon gói ma túy ban đầu; 01 bật lửa ga.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc: 01 điện thoại di động nhãn hiệu KECHAODA vỏ màu đen trắng thu giữ của bị cáo; 01 xe máy nhãn hiệu Honda (Wave RSX) sơn màu xanh đen, BKS: 26K4- 9372, số khung 629350, số máy 2139539; 01 đăng kí xe số 067926 do Công an tỉnh Sơn La cấp ngày 24/02/2009 có BKS: 26K4-9372.
Tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel –N435 vỏ mầu đen, 01 ví giả da màu nâu đen, số tiền 1.145.000VNĐ thu giữ của bị cáo.
Trả lại cho bị cáo: 01 giấy phép lái xe số 140129005385 cấp ngày 29/10/2016 mang tên Cứ A C; 01 giấy chứng minh thƣ nhân dân số 050491580 cấp ngày 17/10/2003 mang tên Cứ A C.
Về án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, các thành viên Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận, bị cáo là đối tƣợng sử dụng trái phép chất ma túy . Ngày 09.01.2018, Cƣ́ A C đã mua 10.000.000 VNĐ Heroin và methamphetamine tại xã Huổi Một, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La với mục đich để sử dụng vì bản thân nghiện, ngoài
́
ra không có mục đích nào khác. Khi bị cáo đang trên đƣờng về đến xã Nà Ớt, huyện Mai Sơn thì bị tổ công tác Đồn công an Nà Ớt , Công an huyê ̣n Mai Sơn bắt quả tang thu gi ữ 2,07 gam Methamphetamine và 88,97 gam Heroin. Tổng khối lƣợng chất ma túy là 2,07 + 88,97 = 91,04 gam. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và toàn bộ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.
Nhƣ vậy, với việc mua tổng khối lƣợng 91,04 ma túy, trong đó có 2,07 gam Methamphetamine và 88,97 gam Heroin về để sử dụng thì có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Cứ A C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo tại Bản cáo trạng số: 50/CT-VKSMS ngày 05.06.2018 là có căn cứ, đúng quy định.
Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, dân sự. Nhận thức đƣợc việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Nhƣng do thiếu rèn luyện, bị cáo đã phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tƣợng hám lời có cơ hội Lu thông buôn bán ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, vì lẽ đó khi lƣợng hình cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tƣơng xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy: Bị cáo là đối tƣợng nghiện ma túy, có nhân thân xấu. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS vì tại bản án số 83/2013/HS-ST ngày 25.09.2013 của Tòa án nhân dân huyện Mƣờng La , tỉnh Sơn La xử phạt Cứ A C 36 tháng tù giam về tô ̣i Tàng trƣ̃ trái phép chất ma túy , chƣa đƣợc xóa án tích. Tuy nhiên cũng cần xem xét khi bị bắt bị cáo đã tự giác giao nộp ma túy và trƣớc cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về việc đã làm. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự sẽ đƣợc Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo.
Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù giam với mức phạt nghiêm khắc, đủ để bị cáo cải tạo trở thành ngƣời có ích cho gia đình, xã hội, từ đó có tác dụng giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh của Cơ quan điều tra và tại phiên tòa xét thấy: Bị cáo không có tài sản có giá trị, thu nhập thấp, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng, xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ một số vật chứng, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự giải quyết nhƣ sau: Đối với vật chứng còn lại 1,59 gam methaphetamine, 85,84 gam heroin, hộp bao bì niêm phong tang vật, mảnh nilon gói ma túy ban đầu; 01 bật lửa ga xét thấy là chất độc dƣợc Nhà nƣớc cấm lƣu hành và vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu KECHAODA vỏ màu đen trắng và 01 xe máy nhãn hiệu Honda (Wave RSX) sơn màu xanh đen, BKS: 26K4-9372, số khung 629350, số máy 2139539; 01 đăng kí xe số 067926 do Công an tỉnh Sơn La cấp ngày 24/02/2009 có BKS: 26K4-9372 thu giữ của bị cáo. Xét thấy bị cáo sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy, chiếc xe là phƣơng tiện để vận chuyển ma túy có nguồn gốc đều là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel –N435 vỏ mầu đen, 01 ví giả da màu nâu đen, số tiền 1.145.000VNĐ thu giữ của bị cáo xét thấy là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 giấy phép lái xe số 140129005385 cấp ngày 29/10/2016 mang tên Cứ A C; 01 giấy chứng minh thƣ nhân dân số 050491580 cấp ngày 17/10/2003 mang tên Cứ A C. Xét thấy là giấy tờ tùy thân của bị cáo do đó cần trả lại cho bị cáo Cháy.
Về án phí:Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.
Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy Cƣ́ A C khai mua của L (không rõ nhân thân ) quá trình mua bán trao đổi không ai biết , chƣ́ ng kiến. Đối vớ i số điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng L liên la ̣c vớ i C, trƣớ c đó C đa xõ ́a, không Lu số điê ̣n thoại của L. Do đó cơ quan CSĐT công an huyê ̣n Mai Sơn không có cơ sở để điều tra xác minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Cứ A C (Cứ A T) phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng điểm b Khoản 3 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Cứ A C (Cứ A T) 14 (mƣời bốn) năm tù giam. Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt 10.01.2018.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự, điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Vật chứng còn lại 1,59 gam methaphetamine, 85,84 gam heroin, hộp bao bì niêm phong tang vật, mảnh nilon gói ma túy ban đầu; 01 bật lửa ga.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc: 01 điện thoại di động nhãn hiệu KECHAODA vỏ màu đen trắng và 01 xe máy nhãn hiệu Honda (Wave RSX) sơn màu xanh đen, BKS: 26K4- 9372, số khung 629350, số máy 2139539; 01 đăng kí xe số 067926 do Công an tỉnh Sơn La cấp ngày 24/02/2009 có BKS: 26K4-9372 đã thu giữ của bị cáo.
Tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel –N435 vỏ mầu đen, 01 ví giả da màu nâu đen, số tiền 1.145.000VNĐ thu giữ của bị cáo.
Trả lại cho bị cáo: 01 giấy phép lái xe số 140129005385 cấp ngày 29/10/2016 mang tên Cứ A C; 01 giấy chứng minh thƣ nhân dân số 050491580 cấp ngày 17/10/2003 mang tên Cứ A C.
Về án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh Sơn La; - Sở tƣ pháp tỉnh Sơn La; - Viện KSND Mai Sơn ; - Viện KSND tỉnh Sơn La ; - Nhà tạm giữ Công an huyện Mai Sơn ; - Công an huyện Mai Sơn ; - Chi cục THADS Mai Sơn ; - Bị cáo; - Lu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Văn Thịnh |