- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 68/2018/HS-ST Ngày: 13/07/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Huy. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Từ Ngọc Viễn; Bà Nguyễn Thị Hơn; - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phạm Vân Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố M. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố M tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Bạch - Kiểm sát viên. Ngày 13 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố M xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2018/HS-ST ngày 18 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2018/QĐXXST-HS ngày 28/6/2018 đối với bị cáo: Nguyễn Quang L; sinh năm 1996, tại tỉnh Tiền Giang; Nơi ĐKNKTT: ấp 1, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Chổ ở: ấp 1, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nhân viên quán Bar New Club; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Nguyễn Quốc T và bà Phạm Thị D; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 04/02/2018 đến ngày 13/02/2018; bị cáo tại ngoại (có mặt). Người làm chứng: 1. Lê Văn C, sinh năm 1994 (vắng mặt). Địa chỉ: ấp G, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. 2. Phạm Quốc T, sinh năm 1973 (vắng mặt). Địa chỉ: số 8A đường T, Phường T,thành phố N, Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lúc 00 giờ 30 phút ngày 04/02/2018, tại quán Bar N địa chỉ số 288, đường P, Phường 5, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Tiền Giang phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M và Công an Phường 5, thành phố M bắt quả tang Nguyễn Quang L đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: - 02 bịch nylon hàn kín bên trong chứa 13 viên nén hình khối chữ nhật màu hồng thu giữ trong túi quần phải và trái của L đang mặc được cho vào gói niêm phong dạng phong bì có chữ ký của L và dấu mộc đỏ của Công an Phường 5, thành phố M (Ký hiệu 1). - 02 bịch nylon chứa tinh thể màu trắng thu giữ trong túi quần bên phải của L đang mặc được cho vào gói niêm phong có chữ ký của L và dấu mộc đỏ của Công an Phường 5, thành phố M. Đến 04 giờ 05 phút cùng ngày, lực lượng Công an khám xét khẩn cấp phòng máy nơi làm việc của L tại quán Bar New Club tiếp tục thu giữ: - Thu giữ trong túi xách màu đen của L: + 01 bịch nylon màu trắng chứa 50 viên nén tròn, đầu nhọn màu xanh được cho vào gói niêm phong dạng bao thư có chữ ký của L và chữ ký của Phạm Quốc Tuấn và dấu mộc đỏ của Công an Phường 5, thành phố M (Ký hiệu 3). + 01 bịch nylon màu trắng chứa 06 viên nén hình tròn, màu xanh được cho vào gói niêm phong màu trắng, dạng bao thư có chữ ký của L và chữ ký của Phạm Quốc Tuấn và dấu mộc đỏ của Công an Phường 5, thành phố M (Ký hiệu 4). + 09 bịch nylon màu trắng chứa tinh thể màu trắng, được hàn kín hai đầu, được cho vào gói niêm phong màu trắng, dạng bao thư có chữ ký của L và chữ ký của Phạm Quốc Tuấn và dấu mộc đỏ của Công an Phường 5, thành phố M (Ký hiệu 5). + 01 túi nylon màu trắng chứa 10 viên nén màu hồng, hình chữ nhật được cho vào gói niêm phong màu trắng, dạng bao thư có chữ ký của L và chữ ký của Phạm Quốc Tuấn và dấu mộc đỏ của Công an Phường 5, thành phố M (Ký hiệu 6). + 01 cái bóp loại nhỏ màu nâu-đen. + 01 cái bóp loại nhỏ màu vàng. + 01 túi xách màu đen có chữ Chi Bao. + 01 điện thoại di động màu trắng hiệu Huawei.
- + 01 giấy chứng minh nhân dân số 312277217 tên Nguyễn Quang L. + Tiền Việt Nam 800.000 đồng. Căn cứ bản kết luận giám định số 68 ngày 07/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận: - 13 viên nén màu hồng bên trong 02 bịch nylon trong phong bì được niêm phong (Ký hiệu 1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 5,1870 gam, loại: MDMA. - Mẫu tinh thể bên trong 02 bịch nylon trong phong bì được niêm phong (Ký hiệu 2) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8077 gam, loại Ketamine. Hàm lượng Ketamine: 32,59%, khối lượng Ketamine trong 0,8077 gam mẫu là: 0,2632 gam. - 50 viên nén màu xanh bên trong 01 bịch nylon trong phong bì được niêm phong (Ký hiệu 3) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 17,3982 gam, loại: MDMA. - 06 viên nén màu xanh bên trong 01 bịch nylon trong phong bì được niêm phong (Ký hiệu 4) gửi giám định có khối lượng 2,1228 gam, không tìm thấy chất ma túy. - Mẫu tinh thể bên trong 09 bịch nylon trong phong bì được niêm phong (Ký hiệu 5) gửi giám định là ma túy, có trọng lượng 3,6185 gam, loại Ketamine. Hàm lượng Ketamine: 44,00%, khối lượng Ketamine trong 3,6185 gam mẫu là: 1,5921 gam. - 10 viên nén màu hồng bên trong 01 bịch nylon trong phong bì được niêm phong (Ký hiệu 6) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,9646 gam, loại: MDMA. Tại bản cáo trạng số 51/QĐ-VKS ngày 14/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố M đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g, n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Tòa án xử phạt bị cáo từ 05 đến 06 năm tù và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau: [1] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, từ khoảng cuối tháng 12/2017 đến ngày
- 03/02/2018 tại khu vực đường L, Phường 5, thành phố M; bị cáo đã 03 lần mua ma túy từ 01 người đàn ông tên An (không rõ họ, địa chỉ) đem về cất giấu nhằm mục đích sử dụng, đến 00 giờ 30 phút ngày 04/02/2018 tại quán Bar N, bị cáo bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép số ma túy để sử dụng, qua giám định là 28,4051 gam ma túy, trong đó có 26,5498 gam MDMA và 1,8553 gam Ketamine, nên bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. [2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được rằng ma tuý là chất gây nghiện nguy hiểm, việc tàng trữ trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm. Bị cáo biết rõ những tác hại trực tiếp do ma tuý gây ra đối với con người cũng như những tác hại gián tiếp cho xã hội nhưng bị cáo vẫn mua về tàng trữ để sử dụng. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi của bị cáo gây ra mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm. [3] Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo là bộ đội xuất ngũ, gia đình thuộc diện có công với cách mạng nên Tòa có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. [4] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động màu trắng hiệu Huawei; 01 giấy chứng minh nhân dân số 312277217 mang tên Nguyễn Quang L; 02 cái bóp và số tiền 800.000 đồng của bị cáo không liên quan đến việc thực hiện tội phạm nên trả lại cho bị cáo; các vậy chứng khác là ma túy và túi xách dùng đựng ma túy tịch thu tiêu hủy. [5] Đối với các đối tượng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và các đối tượng có liên quan bị phát hiện cùng ngày 04/02/2018 tại quán Bar New Club hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M đã tách ra khởi tố, điều tra làm rõ xử lý trong các vụ án khác. [6] Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Riêng đối với việc truy tố của Viện kiểm sát, Tòa xét thấy: Bị cáo tàng trữ 02 chất ma túy là MMDA và Ketamine với tổng khối lượng là 28,4051gam nên bị cáo phạm vào điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, điểm g chỉ áp dụng đối với trường hợp 01 chất ma túy, nên việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo cùng lúc 2 điểm g và n khoản 2 là chưa chính xác và bất lợi cho bị cáo. Do đó, Tòa án chỉ chấp nhận xét xử bị cáo theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. [7 Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo và xử lý vật chứng là có căn cứ nên Tòa chấp nhận. [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm n khoản 2 Điều 249 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang L 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt, được trừ đi thời gian tạm giữ trước đó từ ngày 04 tháng 02 năm 2018 đến ngày 13 tháng 02 năm 2018. * Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật và vỏ bao gói được để trong 06 bì thư niêm phong số 68/1, 68/2, 68/3, 8/4, 8/5, 68/6 ngày 07/02/2018 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thành Trung và người chứng kiến Nguyễn Anh Hoàng và hình dấu tròn màu đỏ in chữ PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH VĨNH LONG; 01 túi xách màu đen có chữ Chi Bao. Trả lại cho bị cáo 01 giấy chứng minh nhân dân số 312277217 mang tên Nguyễn Quang L; 01 bóp loại nhỏ màu nâu-đen; 01 bóp loại nhỏ màu vàng; 01 điện thoại di động màu trắng hiệu Huawei và số tiền Việt Nam 800.000 đồng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2018 giữa Công an Thành phố M và Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố M). * Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND TP.M; - Chi cục THADS TP.M; - Bị cáo; - Lưu. Ngô Hoàng Huy |