vanban.org

Bản án 68/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 26/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mai Văn B phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy";

Xử phạt: Mai Văn B 07 (bảy) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được T kể từ ngày tạm giữ 05/02/2018 (ngày năm, tháng hai, năm hai nghìn không trăm mười tám). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Văn B - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Văn B phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy";
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số:68/2018/HS-ST
Ngày: 26/10/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH ANGIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Lý Vĩnh Thành;

- Bà Nguyễn Phan Thùy Trang.

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 10 năm 2018, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2018/QĐXXST-HS ngày 12/10/2018 đối với:

Bị cáo: Mai Văn B, sinh năm 1984; nơi sinh: Châu Đốc - An Giang; nơi cư trú (ĐKHKTT): khóm G, phường CH, thành phố D, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 7/12; giới T: N; dân tộc: kinh; tôn giáo: đạo phật; con ông Mai Văn H (chết năm 2017), và bà Phạm Thị Ng, sinh năm 1960; vợ: Nguyễn Thị Thúy A(sinh năm 1989); con: Mai Thúy V (sinh năm 2015);

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/02/2018 đến ngày 13/02/2018 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1988; địa chỉ: tổ 17, khóm C, phường V, thành phố D, tỉnh An Giang; vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Quốc H(Tú L), sinh năm 1983; địa chỉ: ấp G, xã H, huyện P, tỉnh An Giang; vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1989; địa chỉ: tổ 8, khóm T, phường S, thành phố D, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Người chứng kiến:

+ Ông Phan Thiện T, sinh năm 1990; địa chỉ: tổ 29, khóm C, phường V, thành phố D, tỉnh An Giang; vắng mặt.

+ Ông Hồ Minh T1, sinh năm 1988; địa chỉ: số A đường T, khóm B, phường M, thành phố D, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Mai Văn B bị Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 05/02/2018, lực lượng phối hợp phòng, chống tội phạm về ma túy Phòng Cảnh sát Giao thông đường bộ - Công an tỉnh An Giang, Công an thành phố Châu Đốc và Công an phường Vĩnh Mỹ kiểm tra, lập biên bản bắt quả tang Mai Văn B cất giấu 02 gói nylon trong suốt, một đầu có rãnh kéo, viền màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi ma túy đá). B khai, cất giấu ma túy để sử dụng và bán cho nhiều người nghiện khác. Mở rộng khám xét khẩn cấp nơi ở của B, thu giữ chất ma túy và dụng cụ sử dụng, phân chia ma túy.

Vật chứng thu giữ:

- Khi bắt quả tang: 02 gói nylon trong suốt, hàn kín, một đầu có rãnh kéo, chứa tinh thể màu trắng (nghi ma túy đá); 01 giấy phép lái xe hạng A1 tên Mai Văn B; 03 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, Samsung và Oppo, cùng sử dụng mạng Vietel; 01 xe mô tô, nhãn hiện Airblade, màu đỏ đen, biển số 67E1 – 145.61, bản sao Giấy chứng nhận đăng ký xe tên Mai Văn B; 3.000.000 đồng; 01 cây búa, lưỡi kim loại, cán gỗ dài 34cm.

- Khi khám xét nơi ở của B: 10 gói nylon trong suốt, hàn kín, một đầu có rãnh kéo, chứa tinh thể màu trắng (nghi ma túy đá); 01 cây búa, lưỡi kim loại sơn màu đỏ, cán gỗ dài 35cm; 24 nỏ thủy tinh; 01 cây pen y tế màu trắng; 01 hộp gỗ, có 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng sọc trắng, một đầu hàn kín, một đầu nhọn; 01 vỏ hộp giấy bánh ngọt, hiệu NABATI, bên trong chứa nhiều gói nylon trong suốt, một đầu có rãnh kéo; 01 cân tiểu ly; 01 B hút bằng nhựa; 01 cuộn băng keo; 30 chiếc bong bóng nhiều màu; 01 máy T xách tay, nhãn hiệu Dell; 01 đèn pin bằng kim loại.

Căn cứ Kết luận giám định số 96/KLGT-PC54 ngày 13/02/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang, ghi nhận: Mẫu gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 28,4671 gam, loại Methamphetamine.

Ngày 13/02/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh An Giang ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can Mai Văn B.

Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an thành phố Châu Đốc, bị cáo Mai Văn B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng. Ngoài ra, bị cáo còn khai, bị cáo bắt đầu mua bán ma túy trái phép từ khoảng tháng 02/2018, mục đích để có ma túy sử dụng và bán lại kiếm lời. Bị cáo mua ma túy từ người N tên T1 (không biết mặt, họ, tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể). Cách thức mua, cứ 04 ngày T1 liên lạc với bị cáo qua điện thoại để bán ma túy một lần, nếu bị cáo đồng ý mua thì gửi tiền trước cho T1 và nhận ma túy từ T1 (qua xe khách Huệ Nghĩa), mỗi lần mua 03 hộp 10 ma túy với giá 9.600.000 đồng và 100.000 đồng phí gửi xe. Mỗi lần mua được ma túy, bị cáo mang về sử dụng và chia lại để bán cho các con nghiện, thu lợi từ 900.000 đến 1.500.000 đồng. T đến ngày 05/02/2018, bị cáo đã mua ma túy của T1 khoảng 90 lần, thu lợi tổng cộng khoảng 90.000.000 đồng đến 135.000.000 đồng.

Trong thời gian mua bán ma túy trái phép, bị cáo đã bán ma túy cho những người nghiện tên L, nhà ở khu vực biên giới Campuchia; Tú L, nhà ở xã Châu Phong, thị xã Tân Châu; H1 và N nhà ở thị trấn Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên và nhiều người nghiện khác; tất cả đều không biết họ, địa chỉ cụ thể; bán nhiều lần, mỗi lần 01 gói ma túy với giá từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Cách thức bán ma túy cho những người nghiện, bị cáo để ma túy trong bọc nylon trong suốt, hàn kín; nơi giao nhận ma túy, trước cửa kho của bị cáo thuộc khóm Châu L1 3, phường Châu Phú B, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đối với các vật chứng thu giữ của bị cáo: điện thoại di động hiệu Samsung và Oppo bị cáo dùng để liên lạc với người thân, xe mô tô biển số 67E1 – 145.61 dùng làm phương tiện đi lại trong gia đình, 3.000.000 đồng là số tiền có được từ việc cho vay tiền góp, máy T xách tay hiệu Dell, đèn pin và 02 cây búa dùng để sinh hoạt trong gia đình, tất cả đều không dùng vào việc mua bán trái phép chất ma túy; các vật chứng bị thu giữ còn lại đều phục vụ cho hoạt động mua bán trái phép chất ma túy.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Th khai, Thành bắt đầu mua ma túy của bị cáo từ khoảng tết nguyên đán năm 2018, mỗi lần mua 01 bịt ma túy đá với giá 300.000 đồng/bịt, ma túy được đựng trong bọc nylon trong suốt hàn kín, được quấn trong bọc kẹo, giao nhận ma túy tại trước cửa kho của B. Thành mua ma túy của bị cáo được khoảng 02 đến 03 lần thì bị cáo không đồng ý bán cho Thành nữa nên Thành nhờ Tú L mua ma túy của bị cáo để cả hai cùng sử dụng.

Người chứng kiến Hồ Minh T1 và Phan Thiện T khai, khoảng 18 giờ 45 phút ngày 05/02/2018, tại trụ sở Công an phường Vĩnh Mỹ, T1 và Thiện chứng kiến Công an kiểm tra Mai Văn B và phát hiện túi quần jean phía sau bên trái của B đang mặc có 01 bong bóng màu xanh, bên trong có 02 bọc nylon trong suốt hàn kín, một đầu có rảnh khóa viền màu đỏ, chứa tinh thể màu trắng, bên ngoài được quấn băng keo màu đen. Sau đó, lực lượng công an lập biên bản niêm phong.

Bản Cáo trạng số 73/CT-VKS-CĐ ngày 26 tháng 9 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Mai Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy như lời khai đã thể hiện tại giai đoạn điều tra và đúng như nội dung truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo có yêu cầu nhận lại các tài sản gồm: 01 giấy phép lái xe hạng A1 tên Mai Văn B; 02 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung và Oppo; 01 xe mô tô, nhãn hiện Airblade, màu đỏ đen, biển số 67E1 – 145.61; 3.000.000 đồng; 01 máy T xách tay, nhãn hiệu Dell.

Phát biểu quan điểm luận tội, Kiểm sát viên giữ quan điểm truy tố bị cáo Mai Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo B trong vụ án là vi phạm pháp luật nên phải chịu trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, về nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, thành phần lao động, học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế; ngoài ra bị cáo còn tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án, khai báo lần phạm tội trước là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử lý:

Về trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i khoản 2, Điều 251; điểm r, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo B từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với Lương Thị Kiều Nga không biết bị cáo B mua bán ma túy, không xử lý nhưng cần giáo dục công khai tại phiên tòa; người tên T1 bán ma túy cho bị cáo và các đối tượng tên H (Tú L), Kha, Cường, N, H1, L1, L là những người đã mua ma túy của bị cáo, hiện không rõ họ tên, địa chỉ, vắng mặt tại địa phương Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng thu giữ, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 xử lý:

- Giao trả cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng đồng trắng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đồng trắng; 01 (một) xe mô tô hiệu Air Blade màu đỏ đen, biển kiểm soát 67E1 – 145.61; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, số 520506820636, mang tên Mai Văn B; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 003601 tên Mai Văn B, biển số đăng ký 67E1 – 145.61(bản sao) và 3.000.000 đồng. Tuy nhiên, tiếp tục tạm giữ số tiền 3.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án. Riêng điện thoại di động hiệu iphone màu đen, là công cụ bị cáo dùng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy. Xét, tịch thu, sung vào công quỹ Nhà nước

- Số ma túy đã thu giữ của bị cáo B, là vật cấm lưu hành nên đề nghị tịch thu tiêu hủy cùng các vật dụng cân, phân chia ma túy để bán thu giữ còn lại.

- Số vật chứng thu giữ còn lại tịch thu tiêu hủy.

- Số tiền thu lợi bất chính: Trong thời gian mua bán trái phép chất ma túy bị cáo đã thu lợi là 90.000.000 đồng, buộc bị cáo giao nộp sung quỹ Nhà nước.

Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đồng ý theo Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến khác.

Bị cáo nói lời sau cùng, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị cáo Mai Văn B bị Cơ quan điều tra - Công an thành phố Châu Đốc khởi tố về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” bị bắt quả tang tại khu vực phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc và nơi ở của B tại tổ 10, khóm Châu L1 3, phường Châu Phú B, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an nhân dân thành phố Châu Đốc, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại.

Sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Văn Th, Nguyễn Quốc H, Nguyễn Văn Kh; người chứng kiến Hồ Minh T1 và Phan Thiện T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ .

- Về nội dung:

Hành vi phạm tội:

Bị cáo Mai Văn B khai nhận, khoảng 18 giờ ngày 05/02/2018, bị cáo bị lực lượng công an bắt quả tang đang cất giấu trong người 02 bọc ma túy và khám xét nơi ở của bị cáo thu giữ được 10 bọc nylon có chứa chất ma túy. Bị cáo bắt đầu mua bán ma túy trái phép từ khoảng tháng 02/2018, mục đích để có ma túy sử dụng và bán lại kiếm lời. Bị cáo mua ma túy từ người N tên T1 (không biết mặt, họ, chữ lót và địa chỉ cụ thể). T đến ngày 05/02/2018, bị cáo đã mua ma túy của T1 khoảng 90 lần, mỗi lần mua 03 hộp 10 ma túy với giá 9.600.000 đồng và 100.000 đồng phí gửi xe. Ngoài số ma túy bị cáo mua để sử dụng, bị cáo còn bán lại và thu lợi tổng cộng khoảng 90.000.000 đồng đến 135.000.000 đồng. Trong thời gian mua bán ma túy trái phép, bị cáo đã bán ma túy cho những người nghiện tên L, H (Tú L), H1, N và nhiều người nghiện khác, rất nhiều lần, tất cả đều không biết họ, địa chỉ cụ thể.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 05/02/2018 do Công an phường Vĩnh Mỹ lập; biên bản khám xét nơi ở của bị cáo ngày 05/02/2018; Kết luận giám định số 96/KLGT-PC54 ngày 13/02/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang, ghi nhận: Mẫu gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 28,4671 gam, loại Methamphetamine; phù hợp với lời khai của Nguyễn Văn Th khai về việc có mua ma túy của bị cáo khoảng 02 đến 03 lần, mỗi lần mua 01 bịt ma túy đá với giá 300.000 đồng/bịt; lời khai của người chứng kiến Hồ Minh T1 và Phan Thiện T khai, chứng kiến thu giữ trong túi quần jean phía sau bên trái của bị cáo đang mặc 01 bong bóng màu xanh, bên trong có 02 bọc nylon trong suốt hàn kín, một đầu có rảnh khóa viền màu đỏ, chứa tinh thể màu trắng, bên ngoài được quấn băng keo màu đen và lập biên bản niêm phong; phù hợp với các chứng cứ khác được thể hiện trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Đủ căn cứ xác định bị cáo có hành vi mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết định khung “phạm tội 02 lần trở lên” và mua bán trái phép chất ma túy Methamphetamine có khối lượng tổng cộng 28,4671 gam được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc.

Ma túy là chất gây nghiện, là mầm móng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác nên Nhà nước độc quyền quản lý, đồng thời nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tiếp tay cho lượng người nghiện ma túy ngày càng tăng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ ở thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án; tự khai báo hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy trước đó được quy định tại điểm s, r, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo có T nguy hiểm cao cho xã hội, cần xử lý nghiêm cách ly bị cáo với bên ngoài xã hội trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Bị cáo không có nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình đã ly hôn, đang nuôi mẹ và con nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Biện pháp tư pháp:

Bị cáo khai, mỗi lần mua được ma túy, bị cáo mang về sử dụng và chia lại để bán cho các con nghiện, thu lợi từ 900.000 đến 1.500.000 đồng, T đến ngày 05/02/2018, bị cáo đã mua ma túy của T1 khoảng 90 lần, thu lợi tổng cộng khoảng 90.000.000 đồng đến 135.000.000 đồng phù hợp với lời khai của đối tượng nghiện Nguyễn Văn Th có mua ma túy của bị cáo từ tết nguyên đán, khoảng 02 đến 03 lần thì bị cáo không đồng ý bán cho Thành nữa nên Thành nhờ Tú L mua ma túy của bị cáo để cả hai cùng sử dụng. Vì vậy có cơ sở buộc bị cáo giao nộp số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội mà có, tổng cộng 90.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) hộp niêm phong ghi vụ số 96/KLGT-PC54 ngày 13/12/2018 có in dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Đăng Kh, Võ Hoàng Y; 01 (một) hộp niêm phong ký hiệu số 01 ghi vụ số 96/KLGT-PC54 ngày 13/12/2018 có in dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Đăng Kh, Võ Hoàng Y; 01 (một) hộp niêm phong ký hiệu số 02 ghi vụ số 96/KLGT-PC54 ngày 13/12/2018 có in dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Đăng Kh, Võ Hoàng Y; 01 (một) hộp niêm phong ký hiệu số 03 ghi vụ số 96/KLGT-PC54 ngày 13/12/2018 có in dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Đăng Kh, Võ Hoàng Y; là vật cấm tàng trữ. Xét, tịch thu, tiêu hủy.

- 09 (chín) nõ thủy tinh; 01 (một) cây ben bằng kim loại trắng; 01 (một) hộp gỗ bên trong có 15 (mười lăm) nõ thủy tinh, 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu vàng sọc trắng, một đầu hàn kín, một đầu vạt nhọn; 01 (một) hộp bánh hiệu Nabati bên trong có 149 (một trăm bốn mươi chín) bọc nylon trong suốt có một đầu bóp viền màu xanh, 43 (bốn mươi ba) bọc nylon trong suốt có một đầu bóp viền màu đỏ; 01 (một) cân tiểu ly màu đen có nắp nhựa màu trắng (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (một) B hút (dụng cụ sử dụng ma túy) bằng nhựa màu trắng, có nắp đậy màu trắng, trên nắp có hai lỗ nhỏ, một lỗ được gắn ống hút nhựa màu trắng bẻ cong; 01 (một) cuộn băng keo màu đen; 30 (ba mươi) cái bong bóng nhiều màu); 01 (một) hộp giấy ghi chữ netcafe, bên trong có một hộp nhựa màu đen, trắng ghi chữ Samsung và 01 (một) hộp hình tròn màu đen, cùng 01 (một) túi da nhỏ màu đỏ; tất cả là công cụ phục vụ hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng. Xét, tịch thu, tiêu hủy.

- 01 (một) cây búa có lưỡi bằng kim loại, chiều dài khoảng 10,5cm, lưỡi búa rộng khoảng 8,5cm, cán bằng gỗ dài khoảng 34cm; 01 (một) cây búa có lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ, chiều dài khoảng 34cm; 01 (một) đèn pin bằng kim loại màu đen (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong) là tài sản củ bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và không còn gía trị sử dụng, bị cáo cũng không có yêu cầu nhận lại. Xét tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone màu đen, số imei 35698606 8917582 (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong). Sim Viettel kèm theo máy, là công cụ bị cáo dùng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy. Xét, tịch thu, sung vào công quỹ Nhà nước.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng đồng trắng (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong). Sim Viettel kèm theo máy; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đồng trắng (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong). Sim Viettel kèm theo máy; 01 (một) xe mô tô hiệu Air Blade màu đỏ đen, biển kiểm soát 67E1 – 145.61, số máy JF46E5028339, số khung 4619EY328326 (xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (một) giấy phép láy xe hạng A1, số 520506820636, mang tên Mai Văn B; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 003601 tên Mai Văn B, biển số đăng ký 67E1 – 145.61 (bản sao); 01 (một) máy T xách tay hiệu Dell màu đen (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong); tiền Việt N tổng cộng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng); tất cả đều là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội. Xét, giao trả lại cho bị cáo.

Nhưng tiếp tục tạm giữ tiền Việt N 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) (giấy nộp tiền số 030718.DA08170 ngày 03/7/2018) để đảm bảo thi hành án.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thành phố Châu Đốc với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc ngày 03/7/2018).

Các vấn đề khác:

- Nguyễn Văn Th có hành vi mua ma túy sử dụng trái phép, Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ xử lý theo quy định là phù hợp.

- Những người mua ma túy của bị cáo như: Nguyễn Quốc H(Tú L), Nguyễn Văn Kh vắng mặt tại địa phương không rõ lý do; những người mua ma túy của bị cáo theo lời khai của bị cáo như: Cường, N, H1, L1, L và người N tên T1 bán ma túy cho bị cáo (không rõ họ, địa chỉ), Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm r, s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Mai Văn B phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy";

Xử phạt: Mai Văn B 07 (bảy) năm tù;

Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được T kể từ ngày tạm giữ 05/02/2018 (ngày năm, tháng hai, năm hai nghìn không trăm mười tám).

Căn cứ Điều 46; điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

- Tuyên bố tịch thu, tiêu hủy:

+ 01 (một) hộp niêm phong ghi vụ số 96/KLGT-PC54 ngày 13/12/2018 có in dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Đăng Kh, Võ Hoàng Y;

+ 01 (một) hộp niêm phong ký hiệu số 01 ghi vụ số 96/KLGT-PC54 ngày 13/12/2018 có in dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Đăng Kh, Võ Hoàng Y;

+ 01 (một) hộp niêm phong ký hiệu số 02 ghi vụ số 96/KLGT-PC54 ngày 13/12/2018 có in dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Đăng Kh, Võ Hoàng Y;

+ 01 (một) hộp niêm phong ký hiệu số 03 ghi vụ số 96/KLGT-PC54 ngày 13/12/2018 có in dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Đăng Kh, Võ Hoàng Y;

+ 09 (chín) nõ thủy tinh;

+ 01 (một) cây ben bằng kim loại trắng;

+ 01 (một) hộp gỗ bên trong có 15 (mười lăm) nõ thủy tinh, 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu vàng sọc trắng, một đầu hàn kín, một đầu vạt nhọn;

+ 01 (một) hộp bánh hiệu Nabati bên trong có 149 (một trăm bốn mươi chín) bọc nylon trong suốt có một đầu bóp viền màu xanh, 43 (bốn mươi ba) bọc nylon trong suốt có một đầu bóp viền màu đỏ;

+ 01 (một) cân tiểu ly màu đen có nắp nhựa màu trắng (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong);

+ 01 (một) B hút (dụng cụ sử dụng ma túy) bằng nhựa màu trắng, có nắp đậy màu trắng, trên nắp có hai lỗ nhỏ, một lỗ được gắn ống hút nhựa màu trắng bẻ cong;

+ 01 (một) cuộn băng keo màu đen; 30 (ba mươi) cái bong bóng nhiều màu).

+ 01 (một) cây búa có lưỡi bằng kim loại, chiều dài khoảng 10,5cm, lưỡi búa rộng khoảng 8,5cm, cán bằng gỗ dài khoảng 34cm;

+ 01 (một) cây búa có lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ, chiều dài khoảng 34cm;

+ 01 (một) đèn pin bằng kim loại màu đen (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong);

+ 01 (một) hộp giấy ghi chữ netcafe, bên trong có một hộp nhựa màu đen, trắng ghi chữ Samsung và 01 (một) hộp hình tròn màu đen, cùng 01 (một) túi da nhỏ màu đỏ.

- Tịch thu, sung vào công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, số imei 35698606 8917582 (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong). Sim Viettel kèm theo máy.

- Giao trả cho bị cáo Mai Văn B:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng đồng trắng (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong). Sim Viettel kèm theo máy;

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đồng trắng (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong). Sim Viettel kèm theo máy;

+ 01 (một) xe mô tô hiệu Air Blade màu đỏ đen, biển kiểm soát 67E1 – 145.61, số máy JF46E5028339, số khung 4619EY328326 (xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong);

+ 01 (một) giấy phép láy xe hạng A1, số 520506820636, mang tên Mai Văn B;

+ 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 003601 tên Mai Văn B, biển số đăng ký 67E1 – 145.61 (bản sao);

+ 01 (một) máy T xách tay hiệu Dell màu đen (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong);

+ Tiền Việt N 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), giấy nộp tiền số 030718.DA08170 ngày 03/7/2018.

Nhưng tiếp tục tạm giữ 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), giấy nộp tiền số 030718.DA08170 ngày 03/7/2018 để đảm bảo thi hành án.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thành phố Châu Đốc với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc ngày 03/7/2018).

- Buộc bị cáo giao nộp số tiền 90.000.000 (chín mươi triệu) đồng thu lợi bất chính sung vào công quỹ Nhà nước.

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Mai Văn B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của Nguyễn Văn Th, Nguyễn Quốc H, Nguyễn Văn Kh là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ