vanban.org

Bản án 68/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 18/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Nguyễn Văn V 42 ( Bốn mươi hai ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ - Ngày 23/12/2017. Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định đã được niêm phong; 12 mảnh giấy nhỏ màu trắng, 05 con dao lam ( không còn giá trị sử dụng); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn văn V ttmt - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 7 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68 /2018/HS-ST
Ngày 18 - 5 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Phong Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc

Ông Nguyễn Văn Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Hồng Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2018, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn V, sinh năm 22/5/1968; ĐKNKTT: Số 12/92/66 NTL, phường N, Quận L, thành phố H; chỗ ở: Tổ 17, phường V, Quận L, thành phố H; quốc tịch: Việt nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/10; con ông: Nguyễn Văn B; con bà: Thiều Thị H (đều đã chết); gia đình có 12 anh, chị em, V là thứ 9; Có vợ là Vũ Thị Ng, sinh năm 1975; có 4 con: Con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Có 01 tiền án (chưa xóa): Tại Án số 33/2007/HSST ngày 28/12/2007, Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, Hải Dương xử phạt 08 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ra tù ngày 26/12/2015; bị tạm giữ 23/12/2017; tạm giam ngày 26/12/2017. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy, Khoảng 10h ngày 23/12/2017, V điều khiên xe mô tô đi từ nhà ra quán nước số 416 Thiên Lôi và nhờ một nam giới nghiện cùng chỗ uống Methadol (không biết căn cước, lai lịch) mua hộ 500.000 đồng heroin. Nam giới cầm 500.000 đồng và thuê xe ôm đi về hướng ngã tư Phúc Tăng, khoảng 5 phút sau quay lại và đưa V năm gói giấy màu trắng bên trong có heroin. V mang số ma túy vừa mua được về phòng trọ, chia thành 10 gói nhỏ với mục đích để sử dụng dần và cất 05 gói vào nhiều chỗ ở trong nhà. Còn 05 gói ma túy V cất 04 gói vào túi áo khoác bên phải, 01 gói vào túi quần trước bên trái đang mặc rồi đi xe mô tô quay lại số 416 Thiên Lôi uống nước thì bị Tổ công tác thuộc Công an Quận Lê Chân kiểm tra bắt giữ. Thu giữ trong túi áo khoác ngoài bên phải của V 04 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng, thu trong túi quần dài bên trái của V 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là heroine. Ngoài ra còn thu giữ của V một xe mô tô biển kiểm soát: 29-765V7 và số tiền 1.030.000 đồng. Tổ công tác đã dẫn giải V về trụ sở công an quận Lê Chân lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn V, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Lê Chân đã thu giữ:

- Trong túi áo khoác màu đen phía ngoài bên trái treo trên mắc áo 01 gói giấy nhỏ màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi là Heroine.

- Trong thùng nhựa màu đỏ đựng gạo trong nhà 01 gói giấy nhỏ màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi là Heroine.

- Trong hộp kim loại hình trụ tròn màu đỏ để trong thùng đựng gạo có 03 gói giấy nhỏ màu trắng chứa chất bột màu trắng nghi là Hêroine.

- Trong hộp kim loại hình vuông để trên giường ngủ có 12 mảnh giấy nhỏ màu trắng hình vuông và 05 con dao lam.

Tại Bản Kết luận giám định số 1182/KLGĐ ngày 25/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “ Chất bột màu trắng chứa trong 04 gói giấy thu giữ trong túi áo khoác khi bắt giữ V là ma túy, có trọng lượng 0,4182 gam, là loại Heroin; chất bột màu trắng chứa trong 01 gói giấy thu giữ khi trong túi quần khi bắt giữ V là ma túy, có trọng lượng 0,2860 gam, là loại Heroin; chất bột màu trắng chứa trong 01 gói giấy thu giữ khi trong áo khoác khi khám xét nhà V là ma túy, có trọng lượng 0,1024 gam, là loại Heroin; chất bột màu trắng chứa trong 01 gói giấy thu giữ khi thùng gạo khi khám xét nhà V là ma túy, có trọng lượng 0,0882 gam, là loại Heroin; chất bột màu trắng chứa trong 03 gói giấy thu giữ khi hộp kim loại khi khám xét nhà V là ma túy, có trọng lượng 0,7702 gam, là loại Heroin”.

Tại bản cáo trạng số 65/CT-VKSLC, ngày 09/4/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội "Tàng trữ trái phép chết ma túy", theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 ; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V mức án từ 36 đến 42 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong; 12 mảnh giấy nhỏ màu trắng, 05 con dao lam ( không còn giá trị sử dụng); trả lại bị cáo số tiền 1030.000đ là tài sản riêng của bị cáo, không lien quan đến việc phạm tội, nhưng cần tạm giữ lại để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí đối với bị cáo.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29-765V7 thu giữ của Nguyễn Văn V, V khai mua của một người không quen biết vào năm 2005 nhưng đã làm mất giấy tờ mua bán và đăng ký xe. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục lưu giữ chiếc xe trên để làm rõ xử lý sau.

Đối với người nam giới mua hộ ma túy cho V, do V không biết tên tuổi, lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không có cơ sở để điều tra.

- Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí lệ phí của Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát luận tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và tại lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm trở về hòa đồng với xã hội và cải tạo thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo bị truy tố: Ngày 23/12/2017, Nguyễn Văn V có hành vi cất giữ trái phép 1,1884 gam ma túy, là loại heroin với mục đích để sử dụng và bị bắt quả tang tại khu vực trước cửa số nhà số 416 Thiên Lôi, Quận Lê Chân, Hải Phòng.

Hành vi của bị cáo được chứng minh tại: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa , phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 10 giờ 45 phút ngày 23/12/2017; biên bản niêm phong và mở niêm phong; Kết luận giám định số 1182/KLGĐ ngày 25/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa.

Bị cáo thực hiện hành vi cất giữ trái phép chất ma túy ngày ngày 23 tháng 12 năm 2017, trước thời điểm 0 giờ ngày 01/01/2018 (ngày Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017có hiệu lực). Căn cứ khoản 1 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Hành vi của bị cáo bị xét xử theo qui định của BLHS năm 1999 là phù hợp. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp,khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Theo đó bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phéo chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999.

Theo quy định tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội về việc thi hành của Bộ luật Hình sự năm sô 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung thì …. : Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt nhẹ hơn tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS 1999 nên được áp dụng để quyết định hình phạt đối với bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý chất gây nghiện và là nguyên nhân gây lên các tệ nạn xã hội, các bệnh dịch nguy hiểm cho con người, bị xã hội lên án nên phải xử lý nghiêm.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhân thân bị cáo Nguyễn Văn V có 01 tiền án : Tại Án số 33/2007/HSST ngày 28/12/2007, Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, Hải Dương xử phạt 08 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ra tù ngày 26/12/2015. Tiền án này của bị cáo chưa được xóa, nên lần phạm tội này của bị cáo bị coi là tái phạm, là tình tiết tăng nặng TNHS, được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, cần buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Song xét thấy tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo Đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, cần áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017thì ngoài hình phạt chính bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với lượng ma túy thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu gửi giám định còn lại đã được niêm phong, xét đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự

Đối với 12 mảnh giấy nhỏ màu trắng, 05 con dao lam thu giữ của bị cáo xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự

Đối với số tiền 1.030.000đồng thu giữ của bị cáo: Xét đây là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên không có cơ sở để tịch thu, nhưng cần tạm giữ lại để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí đối với bị cáo theo khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29-765V7 thu giữ của Nguyễn Văn V, V khai mua của một người không quen biết vào năm 2005 nhưng đã làm mất giấy tờ mua bán và đăng ký xe. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục lưu giữ chiếc xe trên để làm rõ xử lý sau.

Đối với người nam giới mua hộ ma túy cho V, do V không biết tên tuổi, lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không có cơ sở để điều tra.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Nguyễn Văn V 42 ( Bốn mươi hai ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ - Ngày 23/12/2017.

2. Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định đã được niêm phong; 12 mảnh giấy nhỏ màu trắng, 05 con dao lam ( không còn giá trị sử dụng);

Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.030.000đồng ( Một triệu không trăm ba mươi ngàn đồng chẵn) thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí đối với bị cáo ( Theo Biên lai thu tiền số 0004100 ngày 09/4/2018 của Chi cục thi hành án Quận Lê Chân)

Theo Biên bản giao nhận tài sản vật chứng ngày 09/4/2017 giữa Cơ quan Công an Quận Lê Chân và Chi cục thi hành án dân sự Quận Lê Chân.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn V phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo bản án : Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận :

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND thành phố Hải Phòng;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- VKSND quận Lê Chân;

- Công an quận Lê Chân;

- Chi cục THADS quận Lê Chân;

- Sở tư pháp TP. Hải Phòng;

- Trại tạm giam Công an TP. Hải Phòng;

- Bị cáo;

- Lưu: HS, VT.

Phạm Thị Phong Lan

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Phin Lương Xuân Hiểu

Phạm Trung Dũng

Cỡ chữ