- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Phàng Thị D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phàng Thị D, phạm Tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2018/HSST Ngày 29/10/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà ông Cầm Văn Thăm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thào A Trư và Ông Đinh Văn Hải.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Khánh Hòa - thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La: Bà Đinh Thị Hằng, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 29/10/2018 tại trụ sở UBND xã Suối Tọ huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2018/TLST- HS ngày 5/10/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2018/QĐXXST-HS ngày 11/10/2018 đối với bị cáo Phàng Thị D, sinh 04/4/1968 tại Kim B. Nơi cư trú Bản Kim B, xã Kim B, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp trồng trọt; Quốc tịch Việt Nam; dân tộc Mông; tôn giáo không; đảng phái đoàn thể không. Trình độ học vấn không biết chữ, con ông Phàng A V, con bà Giàng Thị B, chồng Giàng A S (đều đã chết) bị cáo có 05 con; tiền án, tiền sự không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2018 cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
- Người phiên dịch cho bị cáo Phàng Thị D là Ông Cầm Đình Cốc, trú tại khối 12 thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau
Khoảng 14h10’ ngày 21/8/2018 Phàng Thị D mang theo 113 viên ma túy tổng hợp và 01 gói chất bột màu trắng ngà đi bán thì bị tổ công tác Công an huyện Phù Yên phối hợp với ban công an xã Kim Bon phát hiện bắt quả tang thu cùng vật chứng và niêm phong lại.
Cùng ngày 21/8/2018 cơ quan CSĐT, VKSND huyện Phù Yên phối hợp với công an tỉnh Sơn La và người bị bắt tiến hành mở niêm phong cân tịnh và lấy mẫu gửi giám định:
- 111 viên nén màu hồng có khối lượng 10,771gam; lấy 1,059 gam ký hiệu D gửi giám định, số còn lại niêm phong lại.
- 02 viên nén màu xanh có khối lượng 0,197 gam lấy toàn bộ ký hiệu D2
- 01 gói bột màu trắng ngà nghi Hêrôin có khối lượng 0,974 gam, lấy 0,098gam gửi giám định ký hiệu D3, số còn lại niêm phong lại.
Tại bản kết luận giám định số 987/KL- MT ngày 23/8/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
- Mẫu trích gửi giám định ký hiệu D3 là ma túy, loại Hêrôin, khối lượng là 0,098gam.
- Mẫu trích gửi giám định ký hiệu D, D2 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là D= 1,059gam; D2= 0,197gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,974 gam loại loại Hêrôin và 10,968 gam loại Me thamphetamine;
Tại cơ quan điều tra bị cáo khai khoảng 12 giờ ngày 21/8/2018 có một người đàn ông đến nhà chơi và tự giới thiệu tên là Giàng quốc tịch Lào, người này trao đổi có ma túy tổng hợp bán nhưng chưa bán được và nhờ D đi bán hộ, nếu có người mua trả tiền ngay thì bán giá 2.000.000đ, còn bán nợ thì 3.000.000đ và hứa nếu bán được thì sẽ cho D 500.000đ rồi người đàn ông bỏ đi. Đến khoảng 14h ngày 21/8/2018 D mang số ma túy đi bán thì bị Công an phát hiện bắt quả tang thu cùng vật chứng nói trên.
VKSND huyện Phù Yên có bản cáo trạng số: 56/CT-VKS- PY ngày 03/10/2018 truy tố Phàng Thị D theo điểm p khoản 2 Điều 251 BLHS về Tội mua bán trái phép chất ma túy. Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm và nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về Tội mua bán trái phép chất ma túy và đề nghị HĐXX:
+ Về hình phạt. Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù.
+ Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy 100 viên nén màu hồng Methamphetamine, khối lượng 9,712 gam và 0,876 gam Hêrôin số ma túy còn lại.
- không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo
Đối với người đàn ông mà bị cáo khai tên là G, đến nhờ bị cáo bán ma túy hộ, bị cáo không biết địa chỉ người đó ở đâu. Do vậy cơ quan điều tra công an huyện không có căn cứ để điều tra xác minh làm rõ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[-] Về hành vi quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên tham gia trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong BLTTHS và bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, do đó HĐXX khẳng định các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[-] Tại phiên tòa bị cáo Phàng Thị D, thừa nhận hành vi phạm tội của mình do hám lời từ việc mua bán ma túy, nên dẫn đến phạm tội và mong HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt tù cho bị cáo. Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên truy tố bị cáo về Tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 BLHS là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.
Tại khoản 2 Điều 251 BLHS quy định: phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
a, ……………
P, Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;
Ngoài ra tại khoản 5 Điều 251 BLHS còn quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ..tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
[-] Xét tính chất mức độ hành vi phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nó xâm phạm trực tiếp đến khách thể thuộc quyền quản lý đặc biệt của nhà nước, bị cáo phạm tội do hám lời, bất chấp pháp luật đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy, được chứng minh tại biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 14h10’ ngày 21/8/2018; biên bản cân tịnh vật chứng hồi 15h10’ cùng ngày của Công an huyện Phù Yên và kết luận giám định số 987/KL- MT ngày 23/8/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, bị cáo bán một lúc 02 loại chất ma túy là Methamphetamine và Hêrôin. Từ các căn cứ trên đủ kết tội bị cáo Phàng Thị D phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 BLHS.
[-] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[-] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, hành vi phạm tội của bị cáo đơn giản, mục đích bán kiếm lời bất chính, trình độ học vấn không biết chữ, am hiểu pháp luật có hạn, sống ở vùng kinh tế khó khăn, không nhận thức được hậu quả cũng như tác hại của ma túy, đã dẫn đến phạm tội, cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo phần nào. Tuy nhiên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, có khung hình phạt tù từ 7 đến 15 năm. Do đó cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội trong một khoảng thời gian nhất định tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo sớm trở thành công dân có ích cho xã hội sau này.
Thông qua phiên tòa xét xử lưu động vụ án này mục đích là để tuyên truyền phổ biến pháp luật tới mọi người dân, thấy được tác hại của ma túy, mức hình phạt tù nghiêm khắc của loại tội phạm ma túy, để từ đó có ý thức chấp hành tốt pháp luật và coi đây là bài học cảnh tỉnh cho những ai nếu có hành vi phạm tội tương tự.
* Về vật chứng vụ án:
+ Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại của bị cáo.
* Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): xét thấy bị cáo không có tài sản gì, nên không áp dụng.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên kiểm sát xét xử đề nghị HĐXX áp dụng các điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để xử phạt 8 đến 8 năm 6 tháng tù đối với bị cáo và xử lý vật chứng vụ án theo quy định. HĐXX thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, kiểm sát xét xử tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ. Tuy nhiên mức đề nghị áp dụng hình phạt là quá nghiêm khắc, do đó HĐXX có xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ khác như trình độ văn hóa không biết chữ, nhận thức pháp luật có hạn đẫn đến phạm tội để xử phạt bị cáo cho phù hợp đủ tính răn đe vừa cải tạo vừa giáo dục giúp bị cáo sớm trở thành công dân có ích cho xã hội sau này.
* Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định chung của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Phàng Thị D, phạm Tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Phàng Thị D 7 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 21/8/2018.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy 100 viên nén màu hồng khối lượng 9,712gam loại Methamphetamine và 0,876 gam Hêrôin là số ma túy còn lại của bị cáo Phàng Thị D được niêm phong trong phong bì thư.
3. Hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 các Điều 135, 136 BLTTHS; Khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, bị cáo Phàng Thị D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 BLTTHS. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
| Nơi nhận - Tòa án nhân dân tỉnh SL; - Sở tư pháp; - VKSND huyện py; - Chi cục THADS PY; - CA huyện; - Bị cáo; - Hồ sơ THAHS; - Lưu HSVA . | TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Cầm Văn Thăm |