- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI ---------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2018/HS-ST Ngày: 28-5-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Đăng Đào
Ông Lê Thế Chuyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Nguyệt - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2018/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN THỊ L, sinh năm 198x; Nơi đăng ký HKTT: Xóm 9, Thôn N, xã P, huyện K, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn K và bà: Trần Thị C; Có chồng: Trần Xuân D; Có 03 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11-01-2018 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 20 phút, ngày 11-01-2018, tổ công tác Đồn Công an Bắc Thăng Long, Công an huyện Đông Anh làm nhiệm vụ tại thôn Cổ Điển, xã Hải Bối, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội khám người theo thủ tục hành chính đối với Nguyễn Thị L (sinh năm 198x; Nơi đăng ký HKTT: Xóm 9, thôn N, xã P, huyện K, tỉnh H). Quá trình kiểm tra phát hiện, thu giữ của Nguyễn Thị L 01 túi nilon trong suốt kích thước (1,5x1,7)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng trong túi áo khoác ngoài phía trước, bên trái; 01 điện thoại di động Itel, màu nâu đen, số thuê bao: 0988962522, số Imei 1: 359545080182687, số Imei 2: 359545080182695 trong lòng bàn tay trái và 157.000 đồng (Một trăm năm mươi bảy nghìn đồng) trong túi áo khoác ngoài phía trước, bên phải.
Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng và đưa L về trụ sở để tiếp tục điều tra làm rõ.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở (tại thời điểm bị bắt) của Nguyễn Thị L tại Đội 1x, xã K, huyện Y, tỉnh T, không phát hiện thu giữ gì liên quan đến vụ án.
Giám định 01 túi nilon chứa tính thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Thị L ngày 19-01-2018, Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hà Nội, có Kết luận giám định số 593/KLGĐ-PC54, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,306 gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị L khai nhận: Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 11-01-2018, L đang ăn sáng ở khu vực Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh thì nhận được điện thoại của một người bạn tên là “Huy” (sinh năm: 1995, nhà ở Kim Nỗ, Đông Anh, Hà Nội) có số thuê bao 0974264597, gọi điện nhờ L mua ma túy “đá” rồi mang sang huyện Đông Anh đi dự sinh nhật cùng “Huy”, L đồng ý. Ăn sáng xong, L đi xe bus một mình đến khu vực cầu Chùa Dận, Từ Sơn, Bắc Ninh gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy đá với giá 250.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L tiếp tục bắt xe bus từ Từ Sơn, Bắc Ninh để đi sang huyện Đông Anh, Hà Nội. Trên đường đi, L nhận được điện thoại của “Huy” bảo L khi nào đến khu vực gần khách sạn Minh Cường thì xuống xe sẽ có người đón. Khi đi đến khu vực khách sạn Minh Cường thuộc Uy Nỗ, Đông Anh, Hà Nội thì L xuống xe bus và gặp một người nam thanh niên không quen biết, tự giới thiệu là bạn của “Huy” đang đỗ xe máy đứng chờ ở bến xe bus. Sau đó, người thanh niên này điều khiển xe máy Honda Dream, không gắn BKS chở L đi. Khi đi đến gần nhà nghỉ An Phú 3, thuộc Cổ Điển, Hải Bối, Đông Anh, Hà Nội thì người thanh niên này có nhờ L xuống xe mua hộ người thanh niên này bao thuốc lá. Khi L đang đi vào cửa hàng tạp hóa để mua thuốc lá thì bị cơ quan công an kiểm tra phát hiện bắt giữ, còn người thanh niên đi cùng L lợi dụng sơ hở đã phóng xe bỏ chạy.
L khai số ma túy cơ quan Công an thu giữ trên người là do đối tượng “Huy” sinh năm 1995 ở Kim Nỗ, Đông Anh, Hà Nội nhờ Loan mua hộ và mang sang Đông Anh, Hà Nội cùng “Huy” sử dụng. Mục đích L mua ma túy là để sử dụng cùng Huy, ngoài ra không còn mục đích nào khác.
Về nguồn gốc 01 túi nilon chứa ma túy cơ quan công an thu giữ của L, L khai mua của một người đàn ông không quen biết, không rõ nhân thân lai lịch tại khu vực Chùa Dận, Từ Sơn, Bắc Ninh với giá 250.000 đồng. Ngoài lời khai của L không còn tài liệu nào khác, nên không có cơ sở để xác minh làm rõ.
Về đối tượng “Huy”, người nhờ L mua hộ ma túy, L khai chỉ biết “Huy” sinh năm 1995 nhà ở Kim Nỗ, Đông Anh, Hà Nội và số điện thoại của Huy là 0974264597 . Xác minh tại Công an xã Kim Nỗ, không xác định được trên địa bàn xã có đối tượng nào tên “Huy” có biểu hiện liên quan đến ma túy. Tiến hành thu giữ điện tín đối với số điện thoại 0974264597 để xác định chủ thuê bao. Kết quả: Số thuê bao 0974264597 đăng ký tên Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Viễn thông T, địa chỉ: Khu C, xã N, huyện Đ, Thành phố H. Xác minh tại công ty trên xác định số thuê bao 0974264597 đã bị mất từ tháng 10 năm 2017, công ty không biết hiện ai đang quản lý, sử dụng. Do vậy, không xác định được nhân thân, lai lịch đối tượng tên Huy để điều tra, xử lý theo quy định.
Đối với người thanh niên đón L từ bến xe bus và chở đi gặp “Huy”, L khai là lần đầu gặp người thanh niên này và chỉ biết thanh niên này tự nhận là bạn của “Huy”, ngoài lời khai của L không còn tài liệu nào khác nên không có cơ sở để làm rõ nhân thân của người thanh niên này.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu nâu đen, số thuê bao: 0988962522 và số tiền 157.000 đồng tạm giữ của Nguyễn Thị L, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của L không liên quan đến vụ án. Ngày 30-03-2018 cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Nguyễn Thị H (sinh năm 198x; Trú tại: Đội 1x, xã K, huyện Y, tỉnh T) là chị gái ruột của L quản lý.
Đối với 0,306 gam Methamphetamine đã được niêm phong trong phong bì dán kín là vật chứng của vụ án, chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết theo thẩm quyền.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Thị L thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra.
Tại bản Cáo trạng số 59/CT-VKS-ĐA ngày 16-4-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị L thành khẩn khai nhận hành vi như nội dung Cáo trạng đã nêu, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L mức án từ 14 đến 16 tháng tù. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Và đề nghị xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Anh, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thị L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng là chị Hoàng Thị P, cùng Biên bản khám người theo thủ tục hành chính, Biên bản tạm giữ đồ vật, Sơ đồ hiện trường và Kết luận giám định chất ma túy cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 20 phút, ngày 11-01-2018, tại thôn Cổ Điển, xã Hải Bối, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Thị L ®· cã hµnh vi tµng tr÷ tr¸i phÐp 0,306 gam Methamphetamine và bÞ Đồn Công an Bắc Thăng Long, C«ng an huyÖn §«ng Anh ph¸t hiÖn, bắt giữ.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ pháp luật, đúng người và đúng tội.
Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Ma túy là chất dễ gây nghiện, tạo ảo giác, khiến người sử dụng không kiểm soát được bản thân, gây nguy hiểm đến tính mạng và sức khoẻ của người sử dụng, làm lây lan các căn bệnh xã hội nguy hiểm và là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015; Bị cáo không có tiền án, tiền sự nên được xác định là có nhân thân tốt.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét thái độ khai báo của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy, cần xử phạt bị cáo mức án tù trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng phòng ngừa tội phạm ma túy nói riêng và các tội phạm khác nói chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không phạt tiền đối với bị cáo.
Về đối tượng “Huy”, người nhờ Loan mua hộ ma túy, L khai chỉ biết “Huy” sinh năm 1995 nhà ở Kim Nỗ, Đông Anh, Hà Nội và số điện thoại của Huy là 0974264597. Xác minh tại Công an xã Kim Nỗ, không xác định được trên địa bàn xã có đối tượng nào tên “Huy” có biểu hiện liên quan đến ma túy. Tiến hành thu giữ điện tín đối với số điện thoại 0974264597 để xác định chủ thuê bao. Kết quả: Số thuê bao 0974264597 đăng ký tên Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Viễn thông T, địa chỉ: Khu C, xã N0, huyện Đ, Thành phố H. Xác minh tại công ty trên xác định số thuê bao 0974264597 đã bị mất từ tháng 10 năm 2017, công ty không biết hiện ai đang quản lý, sử dụng. Do vậy, không xác định được nhân thân, lai lịch đối tượng tên Huy để điều tra, xử lý theo quy định. Đối với người thanh niên đón L từ bến xe bus và chở đi gặp “Huy”, L khai là lần đầu gặp người thanh niên này và chỉ biết thanh niên này tự nhận là bạn của “Huy”, ngoài lời khai của L không còn tài liệu nào khác nên không có cơ sở để làm rõ nhân thân của người thanh niên này.
Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số lượng ma túy thu giữ của Nguyễn Thị L là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu nâu đen, số thuê bao: 0988962522 và số tiền 157.000 đồng tạm giữ của Nguyễn Thị L, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của L không liên quan đến vụ án. Ngày 30-03-2018 cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Nguyễn Thị H (sinh năm 198x; Trú tại: Đội 1x, xã K, huyện Y, tỉnh T) là chị gái của L quản lý là có căn cứ.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Căn cứ vào: Điều 106; Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11-01-2018.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 0,306 gam ma túy loại Methamphetamine, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Thị L và Giám định viên, có đặc điểm, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 16-4-2018 giữa Công an huyện Đông Anh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Án xử công khai sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Đông Anh; - Công an huyện Đông Anh; - Chi cục THADS huyện Đông Anh; - Thi hành án hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP; | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Anh Tuấn (Đã ký) |