- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy A - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG TỈNH LẠNG SƠN ____________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2018/HS-ST Ngày 20 - 8 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hương Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Long Minh Tùng
Ông Hoàng Quang Vinh
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Tuyết – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Vi Đức Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 65/2018/TLST-HS, ngày 31 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2018/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Duy A, sinh ngày 05 tháng 7 năm 1984, tại huyện I, thành phố Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn D, xã T, huyện I, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy C; con bà: Vũ Thị H; vợ: Phạm Thị Q; con: Có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/5/2018 đến nay; có mặt.
- Bị hại: Ông Lý Văn K, đã chết.
- Người đại diện của bị hại: Chị Nông Thị S, sinh năm 1971 (là con dâu của bị hại, tham gia theo giấy ủy quyền ngày 18/4/2018 của các con bị hại).
Địa chỉ: Thôn L, xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị Q, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện I, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Trọng T; có mặt.
2. Ông Nguyễn Văn N; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Nguyễn Duy A bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Nguyễn Duy A có giấy phép lái xe hạng C do Sở giao thông vận tại thành phố Hà Nội cấp, có giá trị đến ngày 02/01/2023. Ngày 17 tháng 4 năm 2018, Nguyễn Duy A điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 29C-772.38 là xe ô tô của gia đình, đứng tên đăng ký Phạm Thị Q, là vợ của Nguyễn Duy A, trên xe có Nguyễn Trọng T cùng đi lên thành phố Y giao hàng. Trên đường về nhà, khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Duy A điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29C-772.38 đến km 59+500 quốc lộ 1A, thuộc địa phận thôn Đ, xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn là đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm số 207a (giao nhau với đường không ưu tiên), Nguyễn Duy A phát hiện phía trước cùng chiều có ông Lý Văn K đang dắt xe đạp đi bộ từ bên phải sang bên trái đường hướng Lạng Sơn – Hà Nội. Thấy vậy, Nguyễn Duy A đánh lái xe ô tô sang bên trái đường hướng Lạng Sơn – Hà Nội để tránh, vượt qua trước mặt ông Lý Văn K nhưng phần đầu và sườn bên phải xe ô tô do Nguyễn Duy A điều khiển đã va chạm vào ông K, làm ông K ngã văng ra đường, sau va chạm xe ô tô biển kiểm soát 29C-772.38 để lại vết phanh dài 14,15m chiều hướng từ phải sang trái trên phần đường bên trái hướng Lạng Sơn – Hà Nội. Hậu quả: Ông Lý Văn K tử vong tại chỗ.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 59/2018/TT ngày 23/4/2018 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Lạng Sơn đã kết luận nguyên nhân chết của ông Lý Văn K là do chấn thương sọ não kín, vỡ xương hộp sọ do tương tác với vật tày có lực quán tính lớn.
Bản giám định kỹ thuật số: 61/GĐKT-ĐK ngày 05/5/2018 của Công ty Cổ phần đăng kiểm xe cơ giới Lạng Sơn đã kết luận xe ô tô biển kiểm soát 29C-772.38 trước khi xảy ra tai nạn, các hệ thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường, đảm bảo an toàn kỹ thuật.
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn được xác định là đoạn đường thẳng, phẳng, mặt đường trải nhựa, ở giữa đường có vạch sơn đơn, đứt nét màu vàng; đoạn đường xảy ra tai nạn theo hướng Lạng Sơn – Hà Nội có biển cảnh báo nguy hiểm số 207a. Vùng va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 29C-772.38 và người đi bộ nằm bên phải đường hướng Lạng Sơn – Hà Nội.
Xác định lỗi trong vụ tai nạn là lỗi hỗn hợp: Bị cáo Nguyễn Duy A điều khiển ô tô không làm chủ tốc độ trên đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm, đi không đúng phần đường; ông Lý Văn K dắt xe đạp đi bộ qua đường không đảm bảo an toàn.
Về phần dân sự: Bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân Lý Văn K số tiền 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng). Gia đình nạn nhân Lý Văn K có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Cáo trạng số: 68/CT-VKSCL, ngày 30 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy A về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy A đã khai nhận khi tham gia giao thông do không chấp hành Luật an toàn giao thông, không làm chủ tốc độ trên đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm, không đi đúng phần đường nên đã gây ra tai nạn, hậu quả làm ông Lý Văn K chết. Bị cáo yêu cầu xin lại xe ô tô biển kiểm soát 29C-772.38 và các giấy tờ liên quan.
Chị Nông Thị S trình bầy: Chị là con dâu của ông Lý Văn K, chị được các con của ông K ủy quyền tham gia tố tụng. Sau khi bị cáo gây tai nạn đã đến gia đình chị thăm hỏi và tự nguyện bồi thường 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng) cho gia đình nên gia đình chị không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Chị Phạm Thị Q trình bầy: Chị là vợ của bị cáo A, chiếc xe ô tô biển kiểm soát 29C-772.38 là tài sản chung của gia đình mua để kinh doanh, hiện vẫn thế chấp tại Ngân hàng, xe ô tô đứng tên chị. Bị cáo khi tham gia giao thông đã gây tai nạn là do vô ý, gia đình chị đã bồi thường cho gia đình bị hại xong, nay chị yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét trả lại xe cho gia đình chị để tiếp tục kinh doanh.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đồng thời đánh giá tác hại của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy A từ 12 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho chi Phạm Thị Q và bị cáo Nguyễn Duy A: 01 xe ô tô biển kiểm soát 29C-772.38 và các giấy tờ liên quan; trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại 01 xe đạp.
Phần tranh luận: Không ai có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chi Lăng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy A; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Nguyễn Duy A khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, cụ thể: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 17 tháng 4 năm 2018, bị cáo điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29C-772.38, khi đến km 59+500 thuộc địa phận thôn Đ, xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn do đi với tốc độ không phù hợp trên đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm và đi không đúng phần đường đã gây ra tai nạn với ông Lý Văn K đang dắt xe đạp đi bộ qua đường. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ và khoản 1, khoản 6 Điều 5 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông vận tải. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Duy A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 68/CT-VKSCL ngày 30/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy A về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, hậu quả xâm phạm đến tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo Nguyễn Duy A là người có đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển được việc làm của bản thân. Hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, tình hình an toàn giao thông tại địa phương. Chỉ vì không tuân thủ đúng quy định khi tham gia giao thông mà bị cáo đã gây ra tai nạn và hậu quả làm ông Lý Văn K chết, chính vì vậy bị cáo phải chịu một mức án tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt ngoài việc xem xét tính chất, hành vi phạm tội nêu trên thì còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ để quyết định hình phạt. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình bị hại có đơn xin được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị hại cũng có một phần lỗi nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích trên, xét thấy bị cáo Nguyễn Duy A là người có nhân thân tốt, có 04 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù vì bị cáo có khả năng tự cải tạo tại địa phương, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời cũng thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật và phù hợp với điều kiện hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với bị cáo vì bị cáo vô ý phạm tội, nghề nghiệp chính là lái xe, nếu cấm hành nghề sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của bị cáo.
Về bồi thường dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo Nguyễn Duy A và gia đình bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại số tiền là 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng). Hiện tại các bên xác định phần bồi thường đã giải quyết xong, không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này.
Về vật chứng: Xác định những vật chứng hiện đang thu giữ liên quan đến vụ án nhưng chiếc xe ô tô gây tai nạn là tài sản chung của vợ chồng bị cáo; 01 chiếc xe đạp của ông Lý Văn K vẫn còn giá trị sử dụng, chị Nông Thị S là con dâu ông K đề nghị xin lại chiếc xe để làm kỷ niệm nên cần trả lại cho chị. Trả lại cho chị Phạm Thị Q và bị cáo Nguyễn Duy A xe ô tô biển kiểm soát 29C-772.38 và các giấy tờ liên quan đến xe ô tô; trả lại cho bị cáo A giấy phép lái xe ô tô hạng C, số 010066000775.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị về tội danh, về mức hình phạt đối với bị cáo, về xử lý vật chứng của vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy A phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy A 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 20 tháng 8 năm 2018. Giao bị cáo Nguyễn Duy A cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện I, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Duy A thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc bị cáo Nguyễn Duy A đã bồi thường cho gia đình bị hại ông Lý Văn K số tiền là 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng).
Về xử lý vật chứng:
Trả lại cho chị Phạm Thị Q và bị cáo Nguyễn Duy A: 01 xe ô tô biển kiểm soát 29C-772.38; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô số 328156 mang tên Phạm Thị Q (bản phô tô); 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số KC 3408540, cấp ngày 03/7/2017; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số BB 170146320; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô số TN 170028473.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy A 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C, số 010066000775 do Sở Giao thông vận tải thành phố Hà Nội cấp ngày 02/01/2018.
Trả lại cho chị Nông Thị S là người đại diện hợp pháp của bị hại 01 xe đạp màu xám đã cũ.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/7/2018 giữa Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn).
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Chi Lăng; - Công an huyện Chi Lăng; - Chi cục THADS huyện Chi Lăng; - Những người tham gia tố tụng; - THA hình sự; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Thị Hương Giang |