vanban.org

Bản án 68/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: 1. Giao hai con chung Nguyễn Hoàng Gia L, sinh ngày 12/01/2002 và Nguyễn Hoàng Gia H, sinh ngày 16/11/2009 cho chi ̣ Hoàng Thị L trực tiếp nuôi dƣỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị L - Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 68/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 15-6-2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nguyệt Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Phú Tâm;

Ông Nguyễn Văn Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thi ̣ Liễu - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 354/2018/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 76/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2018 giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1980; thƣờ ng trú: Số 57/1, khu phố T, phƣờ ng Đ, thị xã D, tỉnh B. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H , sinh năm 1976; thƣờ ng trú : Số 57/1, khu phố T, phƣờ ng Đ, thị xã D, tỉnh B. Vắng mă ̣t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 02 tháng 4 năm 2018, lờ i khai trong quá trình giải quyết vụ á n, nguyên đơn chi ̣ Hoàng Thị L trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Văn H tƣ̣ nguyện chung sống, tổ chƣ́ c đám cƣớ i và đăng ký kết hôn theo giấy chƣ́ ng nhâ ̣n kết hôn số 192/KH/2009, quyển số 02 tại Ủy ban nhân dân phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B vào ngày 22 tháng 12 năm 2009.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ta ̣i địa chỉ 57/1, khu phố T, phƣờ ng Đ, thị xã D , tỉnh B.Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng thƣờ ng xuyên cải nhau , bất đồng quan điểm dẫn đến tinh cảm vợ chồng không còn nên vợ chồng đa sỗ ́ng ly

̀ thân hơn 01 năm. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng với anh H không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh H.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên: Nguyễn Hoàng Gia L, sinh ngày 12/01/2002 và Nguyễn Hoàng Gia H, sinh ngày 16/11/2009. Sau khi ly hôn chị L yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi hai con chung và không yêu cầu anh H cấp dƣỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng , bị đơn anh Nguyễn Văn H đã đƣợc Tòa án tống đạt thông báo thu ̣ lý , triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 14/5/2018; tham gia phiên tòa vào các ngày 30/5/2018 và 15/6/2018 nhƣng anh Nguyễn Văn H vắng mặt không có lý do.

Ngày 27/4/2018, Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống giữa chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Văn H tại địa phƣơng và đƣợc cung cấp: Chị L và anh H là vợ chồng, có đăng ký hộ khẩu thƣờng trú tại số 57/1, khu phố T, phƣờ ng Đ, thị xã D , tỉnh B. Từ lúc sống chung vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn, nhƣng đến khoảng tháng 02/2018 thì vợ chồng có gây gỗ , đâ ̣p phá đồ đa ̣c trong nhà vi chị L cho rằng anh H có quen ngƣờ i phu ̣ nƣ̃ khác , đi ̣a

̀ phƣơng có mờ i vợ chồng anh chi ̣ để hòa giải . Sau đó anh H bỏ nhà đi cho đến nay.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến nhƣ sau: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đƣợc xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An nhận định:

[1] Về điều kiện thụ lý vụ án: Chị Hoàng Thị L có đơn yêu cầu giải quyết về tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa chị với anh Nguyễn Văn H, cả hai có địa chỉ thƣờng trú tại phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B. Vì vậy, đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Sự có mặt của đƣơng sự: Nguyên đơn chị Hoàng Thị L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn H đã đƣợc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhƣng anh H vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đƣơng sự trên.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Văn H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 192/KH/2009 quyển số 02 tại Ủy ban nhân dân phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B vào ngày 22 tháng 12 năm 2009 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình tố tụng nguyên đơn xác định vợ chồng thƣờ ng xuyên cải nhau, tính tình không hợp , tình cảm không còn , vợ chồng đã sống ly thân hơn 01 năm. Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến. Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng tại địa phƣơng, chính quyền địa phƣơng cũng xác định vợ chồng anh chi ̣ mâu thuẫn dẫn đến cải nhau, đâ ̣p phá đồ đa ̣c và đa anh H đã

bỏ nhà đi đâu không rõ. Tòa án đã tống đạt̃ văn bản tố tụng yêu cầu anh H có mặt tại Tòa án để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh H không đến. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên cả hai không muốn hàn gắn. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị L là có căn cứ chấp nhâ ̣n, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên: Nguyễn Hoàng Gia L, sinh ngày 12/01/2002 và Nguyễn Hoàng Gia H, sinh ngày 16/11/2009. Sau khi ly hôn chị L yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi hai con chung và không yêu cầu anh H cấp dƣỡng nuôi con. Xét thấy, trong suốt quá trình tố tụng anh Nguyễn Văn H không có ý kiến về vấn đề con chung, hai cháu L và H đều có nguyện vọng đƣợc sống cùng mẹ . Vì vậy, căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án giao hai con chung cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dƣỡng.

[5] Về nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con: Do chị Hoàng Thị L không yêu cầu anh Nguyễn Văn H cấp dƣỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của chị L nên chấp nhận.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Đƣơng sự không có tranh chấp nên Tòa án không giải quyết.

[7] Từ những phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An là có cơ sở chấp nhận.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hoàng Thị L phải chịu án phí theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 271, 273, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

2. Về con chung:

2.1. Giao hai con chung Nguyễn Hoàng Gia L, sinh ngày 12/01/2002 và Nguyễn Hoàng Gia H, sinh ngày 16/11/2009 cho chi ̣ Hoàng Thị L trực tiếp nuôi dƣỡng.

Sau ly hôn, chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Văn H có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

2.2. Về cấp dƣỡ ng nuôi con : Anh Nguyễn Văn H không phải thƣ̣c hiê ̣n nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nghia vu ̣̃

chung về tài sàn (nợ chung): Đƣơng sự không có tranh chấp nên Tòa án không giải quyết.

4.Về án phí dân sƣ̣ sơ thẩm : Chị Hoàng Thị L chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019215 ngày 10/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự./.

Cỡ chữ