vanban.org

Bản án 68/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý

và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1- Về hôn nhân: Chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Phạm Mạnh Th. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 68/2018/HNGĐ-ST

HUYỆN CHỢ MỚI Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Ngày: 09.5.2018. V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG Với

thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Ngọc T. - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Văn Được 2. Ông Lê Đức Thụy - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Văn Dương - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa : Bà Lê Mai Huyền – Kiểm sát viên. Ngày 09 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2018/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2018 về việc tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2018/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 73/2018/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1990. (Có mặt). Địa chỉ: Ấp Mỹ H, xã N, huyện Chợ M, tỉnh A. 2. Bị đơn: Anh Phạm Mạnh Th, sinh năm 1984( Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp Mỹ H, xã N, huyện Chợ M, tỉnh A

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 23.01.2018, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày: Chị và anh Th do người mai mối, cha mẹ đồng ý tổ chức lể cưới năm 2010 có đăng kết hôn, chung sống hạnh phúc được 4 tháng thì phát sinh mâu thuẩn, cự cãi ly thân nhau rồi chung sống lại nhiều lần, lần cuối cùng khoảng tháng 9 năm 2017 đến nay. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, chồng không lo làm ăn mà đánh bài. Nay tình cảm không còn chị xin ly hôn với anh Th. * Về con chung: Có 02 con chung Phạm Minh T1, sinh ngày 08.7.2011 hiện nay sống chung với anh Th và Phạm Minh T2– sinh ngày 25.10.2015 hiện nay đang sống với chị, khi ly hôn chị đồng ý mỗi người được tiếp tục nuôi một đứa như hiện nay, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. * Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Tòa án đã thông báo thụ lý và triệu tập hợp lệ anh Th đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhưng anh vắng mặt và cũng không gởi ý kiến cho Tòa án xem xét. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Chị Phạm Thị T xin ly hôn với anh Phạm Mạnh Th có nơi cư trú ấp Mỹ H, xã N, huyện Chợ M, tỉnh A, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Anh Phạm Mạnh Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Th. [3] Chị T và anh Th do người mai mối dẫn đến kết hôn vào năm 2010, có đăng ký kết hôn, chung sống đến tháng 9 năm 2017 thì không còn chung sống đến nay. Chị T xin ly hôn, Tòa án án hòa giải nhiều lần chị T cương quyết ly hôn. Tòa án đã thông báo thụ lý và triệu tập hợp lệ anh Th nhiều lần nhưng anh không đến và cũng không gửi ý kiến cho Tòa án xem xét, thời gian anh, chị ly thân đã lâu chứng tỏ mâu thuẫn giữa anh, chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T xin ly hôn với anh Th, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình “ Khi vợ hoặc chồng xin ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn…” do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T. [4] Về con chung: Có 02 con chung Phạm Minh T1, sinh ngày 08.7.2011 hiện nay sống chung với anh Th và Phạm Minh T2– sinh ngày 25.10.2015 hiện nay đang sống với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu T2. Anh Th đang nuôi cháu T1, anh không đến Tòa án để hòa giải và cũng không có văn bảng trình bày ý kiến về việc nuôi con. Tòa án có xác minh thì được biết cháu T1 đang sống với anh được đi học và phát triển bình thường như mọi trẻ khác. Căn cứ Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 “ Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con …”, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, giao chị T tiếp tục nuôi cháu T2, anh Th tiếp tục nuôi cháu T1, chị T không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tại phiên tòa anh Th vắng mặt nếu anh có yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án khác. [5] Về tài sản chung: Chị T trình bày không có. Nếu sau này anh Th có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác. [6] Về nợ chung: Ghi nhận chị T trình bày là không có. Nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh chị

vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị Phạm Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Căn cứ Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: 1- Về hôn nhân: Chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Phạm Mạnh Th. 2- Về con chung: Anh Phạm Mạnh Th được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Minh T1, sinh ngày 08.7.2011. - Chị Phạm Thị T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Minh T2, sinh ngày 25.10.2015. Chị Phạm Thị T và anh Phạm Mạnh Th không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Phạm Thị T và anh Phạm Mạnh Th cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh, chị trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con. 3- Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) chị T đã nộp theo biên lai số 0019147 ngày 23.01.2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới. Chị T không phải nộp thêm. Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ