vanban.org

Bản án 68/2017/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 27/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C và Lưu Giàu E phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

* Áp dụng điểm a hoản 4 Điều 139; điểm b, p hoản 1 Điều 46; hoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 33; Điều 41; Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 76; Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 10 (Mười) năm tù. Thời hạn tù t nh từ ngày 26/5/2017. Quyết định duy trì Lệnh tạm giam số: 158/2017/H… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Có và ĐP phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C và Lưu Giàu E phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T A N NH N D N

C N H A

H I CH N H A VI T NAM TỈNH BẮC NINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số: 68/2017/HSST

Ngày: 27/11/2017

NH N DANH

N C C N H A

H I CH N H A VI T NAM

T A N NH N D N TỈNH BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Công Đồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Diêm Tr ng Khoa: Cán bộ hưu.

Bà Đ ng Th Mai: Cán bộ hưu.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà L u Th Tuy t Nhung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguy n Huy Quang - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 27 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 70/2017/HSST ngày 24/10/2017 đối với các bị cáo:

1, Nguy n Văn C, sinh năm 1988. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: p 15, xã V, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Làm ruộng; H c v n: 5/12; Con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1960, con bà Phạm Thị N, sinh năm 1961; Gia đình c 06 anh em, bị cáo là con th 03; c v là Đ ng Thị T, sinh năm 1980; bị cáo c 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2017. C m t tại phiên tòa.

2, Lưu iàu E, sinh năm 1990. Nơi ĐKHKTT: p G, xã L1, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở: p A, xã L1, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Làm ruộng; H c v n: 7/12; Con ông Lưu Văn H, sinh năm 1949 và bà Châu Thị C, sinh năm 1950; Gia đình c 08 anh em, bị cáo là con út; c v là H a Tú H1, sinh năm 1992 và c 01 con sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/5/2017 đến ngày 04/8/2017, hiện tại ngoại. C m t tại phiên tòa.

* Ng i bào ch a cho b cáo Nguy n Văn C: Ông Nguyễn Ch D, luật sư Công ty luật TNHH Dân Tr – Đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh. C m t.

Ng i bào ch a cho b cáo L u Giàu E: Ông Nguyễn Thành L, luật sư Công ty luật TNHH số 1 – Đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh. C m t. * Ng i b h i: Anh Trương Văn H, sinh năm 1976; Trú tại: thôn Ô, xã Đ1, huyện P, tỉnh Bắc Ninh. C m t.

Ng i có quy n l i, ngh a v liên quan:

1, Chị H a Tú H1, sinh năm 1992. Trú tại: p A, xã L1, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. C m t.

2, Chị Đ ng Thị T, sinh năm 1980. Trú tại: p 15, xã V, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu. C m t.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Văn C và Lưu Giàu E bị Viện iểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng tháng 4/2017, do cần tiền để ăn chơi và trả n , Nguyễn Văn C đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của người hác bằng thủ đoạn tự nhận là người của Công ty xổ số c thể cho người chơi biết trước ết quả xổ số để h đánh, sau đ l i dụng lòng tin của h để chiếm đoạt tài sản, vì vậy C đã rủ và bàn với Lưu Giàu E cùng thực hiện hành vi lừa đảo với C và đư c Giàu E đồng ý. Sau đ , C truy cập vào mạng internet tìm iếm thông tin giám đốc của các công ty và tìm th y thông tin Công ty TNHH Huyền Chiên do anh Trương Văn H là giám đốc, số điện thoại 0942******. Ngày 28/4/2017, C điện thoại từ số 0914****** của mình g i điện cho anh H và nhận tên là “Dũng” là người quen trước đây và hỏi thăm s c hỏe của anh H. Th y anh H tin tưởng C là “Dũng” thật, nên C n i với anh H “em c ông chú tên là Ba Thịnh, làm việc bên công ty xổ số, ph a công ty xổ số c chương trình mua ết quả xổ số Miền Bắc để đánh vào các tụ điểm lô đề, anh xem c tham gia chung hông”. Anh H đồng ý tham gia, C cho anh H số điện thoại 0917****** của Giàu E và n i đây là số điện thoại của “chú Ba Thịnh giám đốc công ty xổ số”. Sau đ , C g i điện thông báo cho Giàu E biết vừa tìm đư c người tên H ở Bắc Ninh để lừa g i điện cho ết quả xổ số, C đ ng vai “Dũng” và bảo Giàu E đ ng vai chú “Ba Thịnh” nhận là người của công ty xổ số Miền Bắc để thực hiện lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh H như đã bàn. Còn anh H, do tin lời C n i là thật nên đã g i vào số điện thoại 0917889447 của Giàu E và n i đư c “Dũng” giới thiệu làm ăn. Lúc này, Giàu E đ ng vai “chú Ba Thịnh” trả lời anh H: “Nếu Dũng giới thiệu thì chú giúp. Chú nhờ cháu làm hộ cho công ty để đư c hưởng tiền của Công ty xổ số, chú sẽ chuyển tiền cho cháu để cháu đánh lô hộ và sẽ tr ch phần trăm số tiền l i nhuận c đư c”. Theo ịch bản do C và Giàu E đã bàn, hoảng 15 giờ ngày 28/4/2017, Giàu E (chú Ba Thịnh) g i điện cho anh H l y lý do tiền của công ty xổ số chuyển chậm và hẹn anh H đ t sau làm. Còn C (Dũng) tiếp tục g i điện và vận động anh H g i điện cho “chú Ba Thịnh” cố n i để xin biết trước ết quả xổ số ngày 28/4/2017 và làm theo chương trình của công ty xổ số đưa ra. Anh H tiếp tục g i điện cho “chú Ba Thịnh” (t c Giàu E) và xin tham gia l y ết quả xổ số, Giàu E đồng ý và n i với anh H làm ăn phải giữ chữ t n và l i nhuận chia đôi. Sau hi trao đổi với anh H, Giàu E liên lạc với C và đư c C bảo cho anh H 2 số ngẫu nhiên là 73 và 57. Giàu E điện thoại lại cho anh H và bảo anh H đánh lô theo ết quả xổ số Miền Bắc là 73 và 57. Sau đ , theo anh H hai anh đã vào một quán xổ số ở vỉa hè đường vào làng Ô Cách, xã Đông Tiến ghi lô 2 số cuối của giải nh t là 73 và 57 theo ết quả xổ số Miền Bắc ngày 28/4/2017 và trúng 90.000.000 đồng. Khi trúng lô giải nh t số 57, anh H càng tin tưởng C và Giàu E nên ngày hôm sau theo thỏa thuận anh H điện thoại cho Giàu E (Ba Thịnh) n i chia 50% tiền trúng lô tô là 45.000.000 đồng. Giàu E điện thoại cho C và C đã cho tài hoản Ngân hàng Sacomban tên Phan Văn H1 số 070027902888, để anh H chuyển tiền vào. Ngày 03/5/2017, sau hi anh H chuyển 45.000.000 đồng vào tài hoản, C bàn với Giàu E n i lừa anh H chuyển số tiền 1.000.000.000 đồng để cho anh H tham gia vào làm Cổ đông công ty xổ số và mỗi tháng đư c cho trước 03 ết quả xổ số. Tin là thật, anh H đồng ý. C đã cung c p cho Giàu E 02 tài hoản ngân hàng Sacomban tên Phan Văn H1 số 070027902888 và tên Danh P1 số 050071797144 để anh H chuyển tiền vào. Ngày 03/5/2017, anh H chuyển tiếp vào tài hoản tên Phan Văn H1 500.000.000 đồng; chuyển vào tài hoản Danh P1 500.000.000 đồng. Sau khi anh H chuyển tiền, C bàn với Giàu E tiếp tục lừa anh H bằng việc n i cho anh H làm cổ đông c p hai, mỗi tháng Công ty xổ số cho biết trước 06 ết quả xổ số và anh H phải chuyển thêm số tiền 1.000.000.000 đồng. Anh H vẫn tin tưởng và đồng ý tham gia. C cho Giàu E 2 tài hoản ngân hàng để bảo anh H chuyển tiền vào là tài hoản ngân hàng Sacomban tên Sơn Hồng V số 050072135005 và tài hoản ngân hàng Agriban tên Lê Văn Z số 5911205165141. Mục đ ch của C cho nhiều tài hoản ngân hàng là nhằm chia nhỏ số tiền của anh H chuyển, tiện cho việc rút tiền nhanh để chiếm đoạt. Ngày 04/5/2017, anh H chuyển số tiền 600.000.000 đồng vào tài hoản ngân hàng Agriban tên Lê Văn Z; chuyển 400.000.000 đồng vào tài hoản ngân hàng Sacomban tên Sơn Hồng V. Các lần anh H chuyển tiền xong, C nhanh ch ng rút tiền tại các cây ATM, còn Giàu E tiếp tục đ ng vai “chú Ba Thịnh” cho anh H ết quả xổ số Miền Bắc. Nhưng do hông trúng đư c số nào nữa và biết bị lừa, nên ngày 08/5/2017, anh H c đơn trình báo sự việc đến cơ quan Công an.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn C hai nhận: 04 tài hoản ngân hàng nêu trên để anh H chuyển tiền vào là do C mư n, nhờ của Đ ng Văn A để rút tiền. Trong đ , riêng tài hoản ngân hàng mang tên Phan Văn H1, C l y thẻ ATM của A để rút số tiền 545.000.000 đồng, sau hi rút đư c tiền C đã v t thẻ ATM. Còn lại 02 tài hoản ngân hàng Sacomban tên Danh P1, Sơn Hồng V và tài hoản ngân hàng Agriban mang tên Lê Văn Z, C nhờ A rút hết số tiền 1.500.000.000 đồng do anh H chuyển vào và đưa lại cho C. Tổng cộng, C đã rút hết số tiền của anh H chuyển vào 04 tài hoản là 2.045.000.000 đồng. Sau hi rút đư c tiền, C chia cho Giàu E 869.125.000 đồng, chi cho Đ ng Văn A 306.750.000 đồng, còn lại 869.125.000 đồng C dùng trả n , ăn tiêu và gửi 239.850.000 đồng vào tài hoản ngân hàng Đông Á.

Còn Lưu Giàu E sử dụng 869.125.000 đồng vào sửa lại nhà cửa, ăn tiêu cá nhân và giao cho chị H a Tú H1 là v giữ 400.000.000 đồng. Quá trình điều tra, Lưu Giàu E và gia đình đã nộp hết số tiền chiếm đoạt là 869.125.000 đồng. Đến nay, Nguyễn Văn C và gia đình nộp và anh H đã nhận đư c 449.350.000 đồng, trong đ gồm 239.850.000 đồng do C gửi ở ngân hàng Đông Á, 159.500.000 đồng chị Đ ng Thị Thuận nộp tại cơ quan điều tra và 50.000.000 đồng chị Thuận giao trực tiếp cho anh H ngày 26/11/2017. Ngoài ra, ngày 28/9/2017, chị Đ ng Thị T còn nộp 200.000.000 đồng để hắc phục hậu quả cho C tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

Đối với Đ ng Văn A, ban đầu Nguyễn Văn C khai hi nhờ A rút tiền C n i cho A biết sự việc. Nhưng đến nay, C khai A hông biết, hông liên quan đến hành vi phạm tội của C và hi cho A số tiền 306.750.000 đồng C đã n i dối là tiền do đánh bạc đư c. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và ủy thác điều tra đối với Đ ng Văn A. Nhưng do A hông c m t tại địa phương, hông rõ đang làm gì, ở đâu nên chưa đủ cơ sở để xử lý hành vi của A. Do vậy, cơ quan điều tra đã ra quyết định tách vụ án số: 01 ngày14/9/2017, để tiếp tục điều tra đối với Đ ng Văn A, hi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số: 108/CTr – VKS - P3 ngày 23 tháng 10 năm 2017 của Viện iểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C và Lưu Giàu E về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a hoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa công hai hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn C và Lưu Giàu E thừa nhận t t cả các hành vi phạm tội như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Bị cáo Giàu E cho rằng bị C rủ rê, th y c thể iếm đư c tiền dễ dàng nên đồng ý thực hiện hành vi cùng với C và đư c hưởng l i 869.125.000 đồng. Bị cáo đã nộp hết tiền để hắc phục hậu quả, đề nghị đư c xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Nguyễn Văn C cũng cho rằng đã hắc phục phần lớn số tiền chiếm đoạt nên cũng đề nghị đư c giảm hình phạt.

Anh Trương Văn H tại phiên tòa cũng xác nhận những nội dung mà hai bị cáo Nguyễn Văn C và Lưu Giàu E đã hai, anh H đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho cả hai bị cáo. iêng về yêu cầu bồi thường, anh H xác nhận đã đư c cơ quan điều tra trả lại 1.268.475.000 đồng, ngày 26/11/2017, anh đã nhận đư c của chị Thuận 50.000.000 đồng nữa. Tại phiên tòa hôm nay, anh H hông đề nghị hai bị cáo phải bồi thường cho anh số tiền 45.000.000 đồng và nếu t nh cả số tiền 200.000.000 đồng chị Thuận đã nộp hắc phục hậu quả cho C tại cơ quan thi hành án thì anh Thuận chỉ yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn C bồi thường tiếp cho anh 481.000.000 đồng nữa.

Đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau hi phân t ch t nh ch t, m c độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của hai bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử bị cáo C và Giàu E theo tội danh mà bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị:

- Áp dụng điểm a hoản 4 Điều 139; điểm b, p hoản 1 Điều 46; Điều 47; Điều 33 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 9 đến 11 năm tù. Xử phạt bị cáo Lưu Giàu E từ 7 đến 9 năm tù. Đại diện Viện iểm sát cũng đề nghị buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải bồi thường nốt cho anh H số tiền theo anh H đề nghị là 481.000.000 đồng và đề nghị tịch thu sung công và tiêu hủy các vật ch ng.

Bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C, ông Nguyễn Ch D thống nh t với tội danh và điều hoản như đại diện Viện iểm sát đã nêu nhưng đề nghị xem xét hoản tiền 45.000.000 đồng trong tổng số 2.045.000.000 đồng mà Viện iểm sát qui ết hai bị cáo lừa đảo chiếm đoạt, theo ông D hai bị cáo chỉ chiếm đoạt của anh H 2.000.000.000 đồng còn số tiền 45.000.000 đồng do anh H đư c hưởng l i và tự cho hai bị cáo, tại phiên tòa hôm nay anh H cũng hông đề nghị hai bị cáo bồi thường hoản tiền này. Bị cáo C c nhiều tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm b, p hoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, người bị hại đề nghị xin giảm hình phạt cho bị cáo và gia đình C c ông bà nội là Nguyễn Văn T2 và bà Bùi Thị L2 đư c t ng thưởng huân chương háng chiến hạng 3. Vì vậy, ông D đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C dưới m c đại diện Viện iểm sát đề nghị.

Bào chữa cho bị cáo Lưu Giàu E, ông Nguyễn Thành L đề nghị: Bị cáo đã thành hẩn hai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường toàn bộ cho người bị hại, bị cáo là người c nhân thân tốt, chỉ giữ vai trò giúp s c cho bị cáo C vì vậy, ông L đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho Giàu E đư c hưởng m c án th p nh t.

Hai bị cáo Nguyễn Văn C và Lưu Giàu E hông tranh luận với đại diện

Viện iểm sát, trong tranh luận chỉ xin lỗi người bị hại và gia đình của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại nh t tr với quan điểm của đại diện Viện iểm sát hông c ý iến tranh luận.

Đại diện Viện iểm sát trong đối đáp h ng định: hai bị cáo phạm tội là rõ ràng, hai bị cáo c ý th c lừa anh H từ trước nên phải chịu trách nhiệm về số tiền 2.045.000.000 đồng còn việc anh H hông yêu cầu bồi thường 45.000.000 đồng là thỏa thuận dân sự. Viện iểm sát đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị m c hình phạt dưới hung là hông n ng nên vẫn giữ nguyên quan điểm.

Căn c vào các ch ng c và tài liệu đã đư c thẩm tra tại phiên tòa; căn c vào ết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ch ng c , ý iến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng hác.

T THẤY

Bị cáo Nguyễn Văn C đã rủ và bàn với bị cáo Lưu Giàu E cùng thực hiện hành vi lừa đảo bằng thủ đoạn nhận mình là người của Công ty xổ số c thể cho người chơi biết trước ết quả xổ số để h đánh. Trong thời gian từ ngày 28/4 đến ngày 04/5/2017, Nguyễn Văn C và Lưu Giàu E đã dụ hiến anh Trương Văn H tin tưởng và đã chuyển cho C, Giàu E 2.000.000.000 đồng, hai bị cáo đã chiếm đoạt đư c số tiền này của anh H chia nhau. Lời hai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù h p với các tài liệu c trong hồ sơ vụ án nên đủ căn c xét xử hai bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a hoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện iểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Đối với số tiền 45.000.000 đồng anh H chuyển vào tài hoản mang tên Phan Văn Hải ngày 03/5/2017, đây là hoản tiền anh H tự nguyện chia cho các bị cáo sau hi đã đư c hưởng l i từ việc các bị cáo cho anh H hai số lô ngẫu nhiên là 73 và 57. Tại phiên tòa, anh H cũng hông yêu cầu hai bị cáo bồi thường số tiền này nên cần xác định hai bị cáo đã chiếm đoạt của anh H 2.000.000.000 đồng.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là r t nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản của công dân đư c pháp luật bảo vệ, làm thiệt hại tới inh tế của người bị hại, gây m t lòng tin và ảnh hưởng tới trật tự xã hội. Do vậy, cần phải c m c hình phạt nghiêm hắc đối với các bị cáo mới đủ để giáo giục riêng và phòng ngừa chung.

Xét vai trò, các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của hai bị cáo thì th y: Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn C giữ vai trò ch nh là người hởi xướng, rủ rê Giầu E tham gia cùng C thực hiện hành vi phạm tội, hai bị cáo đã phối h p với nhau nhuần nhuyễn, hiến anh H cũng vì hám l i, tưởng thật mới chuyển tiền cho b n chúng nhiều lần, hành vi phạm tội của hai bị cáo mang t nh liên tục vì chỉ với một mục đ ch làm cho anh H tin tưởng, để l y đư c càng nhiều tiền của anh H càng tốt. Hai bị cáo phạm tội hông c tình tiết tăng n ng nhưng cần áp dụng hình phạt đối với bị cáo C n ng hơn so với Lưu Giàu E bởi lẽ ch nh C là người chỉ đạo các hành động, cho Giàu E biết các tài hoản để Giàu E báo anh H gửi tiền vào, bị cáo C cũng ch nh là người đi rút và chia tiền chiếm đoạt đư c và hiện vẫn chưa bồi thường hết tiền cho người bị hại. Xét th y, cả hai bị cáo chưa c tiền án, tiền sự, thái độ hai báo thành hẩn, các bị cáo cũng đã bồi thường cho người bị hại, người bị hại là anh H đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho hai bị cáo theo qui định tại điểm b, p hoản 1 và hoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự và áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự cho hai bị cáo đư c hưởng hình phạt dưới m c th p nh t của hung cũng đủ giúp các bị cáo trở thành công dân c ch.

Về trách nhiệm dân sự: Cần buộc hai bị cáo phải liên đới bồi thường số tiền 2.000.000.000 đồng cho anh H, trong đ Lưu Giàu E phải bồi thường 869.125.000 đồng. Đối với số tiền còn lại theo Nguyễn Văn C hai c nhờ Đ ng Văn A rút tiền hộ và chi cho Đ ng Văn Hà 306.750.000 đồng nhưng hiện tại Hà hông c m t tại địa phương, việc Đ ng Văn Hà c tham gia cùng thực hiện hành vi phạm tội và c nhận của C 306.750.000 đồng hay hông chưa đư c làm rõ và cơ quan điều tra đã tách hành vi của Hà để xử lý sau nên để đảm bảo quyền l i cho người bị hại cần buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải bồi thường cho anh Trương Văn H 1.130.875.000 đồng nhưng đư c trừ số tiền anh H đã nhận là 449.350.000 đồng và 200.000.000 đồng chị Đ ng Thị T đã nộp tại Cục thi hành án. Số tiền còn lại anh H chỉ yêu cầu 481.000.000 đồng nên Nguyễn Văn C phải tiếp tục bồi thường cho anh H.

Đối với vật ch ng của vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Văn C gồm 02 chiếc điện thoại C sử dụng g i điện thoại cho anh H và Giầu E để thực hiện tội phạm cần tịch thu sung công; các tài sản hác hông c giá trị cần tịch thu tiêu hủy; các gi y tờ tùy thân cần trả lại bị cáo C.

Liên quan trong vụ án còn c 04 chủ tài hoản ngân hàng là Phan Văn H1, sinh năm 1979, ở p Canh Điền, xã L1 Tây, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu nhưng đã chết ngày 10/11/2010. Lê Văn Z, sinh năm 1992 ở p Lê Hoàng Thái, xã Tân Bằng, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Danh P1, sinh năm 1995, ở p 10, xã Vĩnh Viễn A, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Sơn Hồng V, sinh năm 1991, ở p Bồ Đề, xã Kế Thành, huyện Kế Sách, tỉnh S c Trăng. Nhưng Lê Văn Z, Danh P1 và Sơn Hồng V hông c m t tại địa phương, nên cơ quan điều tra đã tách ra để điều tra xem xét xử lý sau.

Đối với việc anh Trương Văn H khai vì tin lời C nên đánh lô tô đư c 90.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã xác minh địa điểm đánh lô tô, nhưng hông làm rõ đư c người bán xổ số ghi lô cho anh H nên hông đề nghị xử lý anh H về hành vi “Đánh bạc” là phù h p với quy định của pháp luật.

Đối với việc Lưu Giàu E giao cho v là chị H a Tú H1 giữ số tiền 400 triệu đồng nhưng chị H1 hông biết, hông liên quan đến hành vi phạm tội của Giàu E. Cơ quan điều tra hông xem xét xử lý đối với chị H1 là c căn c pháp luật.

V các l trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C và Lưu Giàu E phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

* Áp dụng điểm a hoản 4 Điều 139; điểm b, p hoản 1 Điều 46; hoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 33; Điều 41; Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 76; Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 10 (Mười) năm tù. Thời hạn tù t nh từ ngày 26/5/2017. Quyết định duy trì Lệnh tạm giam số: 158/2017/HSST – LTG ngày 16/11/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đối với bị cáo Nguyễn Văn C để đảm bảo thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Lưu Giàu E 7 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù t nh từ ngày bắt thi hành án nhưng đư c trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/5/2017 đến ngày 04/8/2017.

- Buộc bị cáo Lưu Giàu E phải bồi thường cho anh Trương Văn H 869.125.000 đồng. Xác nhận anh H đã nhận đủ số tiền trên.

- Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải bồi thường cho anh Trương Văn H 1.130.875.000 đồng. Xác nhận anh H đã nhận 449.350.000 đồng. Xác nhận chị Đ ng Thị T đã nộp 200.000.000 đồng hắc phục hậu quả cho Nguyễn Văn C theo biên lai thu số: 0000434 ngày 28/9/2017 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh trả 200.000.000 đồng cho anh H sau hi bản án c hiệu lực pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn C còn phải tiếp tục bồi thường cho anh Trương Văn H 481.000.000 đồng.

Kể t ngày bản án phát sinh hiệu l c pháp lu t, ngư i ư c thi hành án c n yêu c u thi hành án, n u bên phải thi hành án kh ng thi hành th hàng tháng phải ch u một khoản l i của s ti n ch m thi hành án theo qui nh tại Đi u 4 Bộ lu t dân s , tư ng ng v i th i gian ch m thi hành án

Trư ng h p bản án ư c thi hành theo quy nh tại i u 2 Lu t thi hành án dân s th ngư i ư c thi hành án dân s , ngư i phải thi hành án dân s c quy n thỏa thu n thi hành án, quy n yêu c u thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc b cưỡng ch thi hành án theo quy nh tại các i u , 7 và 9 Lu t thi hành án dân s ; th i hiệu thi hành án ư c th c hiện theo quy nh tại i u 30 Lu t thi hành án dân s

Tịch thu sung công của Nguyễn Văn C 01 điện thoại di động No ia 261 số imei 1: 356007083447560, imei 2: 356007083447578 máy đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động No ia 101 số imei 1: 355509/05/883440/0, imei 2: 355509/05/883441/8 máy đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy 01 sim vina c số thuê bao 0914978590 c số sêri 89840200020013426738; 01 sim viettel c số thuê bao 01633543838 c số sêri 8984048701006973936; 01 mũ bảo hiểm màu xanh đen, trên mũ c dòng chữ “Monster” màu trắng; 01 áo cánh màu xanh đã qua sử dụng; )1 hẩu trang màu xanh đen đã qua sử dụng.

Trả lại bị cáo Nguyễn Văn C 01 thẻ ATM ngân hàng Agriban c số thẻ 9704050679966304 chủ tài hoản tên Nguyễn Văn C; 01 thẻ ATM ngân hàng DongAban c số thẻ 9704060424375099 chủ tài hoản tên Nguyễn Văn C; 01 gi y ch ng minh thư nhân dân số 341373228 mang tên Nguyễn Văn C.

Các tài sản, vật ch ng trên theo biên bản giao nhận vật ch ng, tài sản ngày 25/10/2017 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

Bị cáo Nguyễn Văn C và Lưu Giàu E, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án ph hình sự sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn C còn phải chịu 23.240.000 đồng án ph dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người bị hại, người c quyền l i, nghĩa vụ liên quan c m t c quyền háng cáo trong hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ