- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa bà P- ông T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P đối với bị đơn ông Phan Hồng T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 68/2017/HNGĐ-ST Ngày: 22-11-2017 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Nhuận
2. Bà Tôn Thị Ngọc Sang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hƣơng – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1146/2017/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2017 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 61/2017/QĐXX-ST ngày 10 tháng 11 năm 2017 giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1968; nơi thƣờng trú: số 3/40, khu phố A, phƣờng B, thị xã C, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
2. Bị đơn: Ông Phan Hồng T, sinh năm 1955; nơi thƣờng trú: số 3/40, khu phố A, phƣờng B, thị xã C, tỉnh Bình Dƣơng; nơi tạm trú: số B224C, tổ 8, khu phố A1, phƣờng B, thị xã C, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 7 năm 2017 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:
Bà Nguyễn Thị P và ông Phan Hồng T tự nguyện tìm hiểu và sống chung từ đầu năm 2006 nhƣng không đăng ký kết hôn theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình.
Bà P và ông T cùng sống chung tại số 3/40, khu phố A, phƣờng B, thị xã C, tỉnh Bình Dƣơng. Thời gian đầu chung sống, bà P và ông T sống rất hạnh phúc tuy nhiên sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do ông T không có việc làm, bà P có khuyên ông T tìm kiếm một việc làm ổn định để có thu nhập chăm lo cho gia đình nhƣng ông T không nghe, ngoài ra ông T không chăm sóc vợ con, thƣờng to tiếng với vợ con, vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình vợ chồng không hợp nhau, từ đó ảnh hƣởng đến cuộc sống hôn nhân. Bà P và ông T ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên bà P khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết đƣợc ly hôn với ông T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà P và ông T có 01 ngƣời con chung là Phan Minh K, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2007. Khi ly hôn bà P yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dƣỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 03 tháng 11 năm 2017 bị đơn ông Phan Hồng T trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà P về thời gian chung sống, con chung, tài sản chung và nợ chung. Ông T thừa nhận ông và bà P có nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, ông T nhiều lần to tiếng với bà P từ đó hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay, ông T xác định ông không còn tình cảm với bà P và đồng ý ly hôn với bà P.
Tại phiên tòa, bà P vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T, về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, về con chung bà P vẫn yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dƣỡng nuôi con chung.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và của những ngƣời tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng nhận định:
Về tố tụng:
Bà P khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông T; ông T có nơi thƣờng trú tại phƣờng B, thị xã C, tỉnh Bình Dƣơng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Qúa trình tố tụng, bị đơn ông Phan Hồng T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông T chung sống với nhau nhƣ vợ chồng từ năm 2006 nhƣng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Bà P và ông T xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay về sống đoàn tụ hạnh phúc, ngoài ra bà P và ông T sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay, vợ chồng không còn thƣơng yêu, quý trọng, quan tâm lẫn nhau. Toà án đã động viên hai bên tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nhƣng bà P và ông T xác định không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn và yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Xét thấy, theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình thì nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định mà chung sống với nhau nhƣ vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Do đó, theo quy định tại Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà P và ông T.
Về con chung: Bà P và ông T có một ngƣời con chung Phan Minh K, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2007. Tại phiên toà bà P vẫn giữ yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dƣỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy cháu Phan Minh K hiện đang sống chung với bà P, cần đƣợc sự quan tâm, chăm sóc và giáo dục từ mẹ, mặt khác bà P có công việc ổn định. Ngoài ra, để đảm bảo sự phát triển cũng nhƣ quyền lợi về mọi mặt của con nên cần giao cháu K cho bà P tiếp tục nuôi dƣỡng.
Về cấp dƣỡng nuôi con: Bà P không yêu cầu ông T cấp dƣỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đƣơng sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về nội dung vụ án là có cơ sở nên chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53; các Điều 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P đối với bị đơn ông Phan Hồng T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị P và ông Phan Hồng T.
- Về con chung: Giao cháu Phan Minh K, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2007 cho bà Nguyễn Thị P đƣợc quyền trực tiếp nuôi dƣỡng.
- Về cấp dƣỡng: Bà Nguyễn Thị P không yêu cầu ông Phan Hồng T cấp dƣỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Bà Nguyễn Thị P và ông Phan Hồng T đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai có quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc con chung. Vì lợi ích của con chƣa thành niên, khi có đơn yêu cầu, Tòa án sẽ giải quyết việc thay đổi ngƣời nuôi con và mức cấp dƣỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình, đƣợc khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0017791 ngày 28 tháng 9 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
3. Đƣơng sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đƣơng sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc đƣợc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Thuận An; - Chi cục THADS thị xã Thuận An; - UBND phƣờng B, thị xã C, tỉnh Bình Dƣơng; - Phòng Tƣ pháp thị xã Thuận An; - Các đƣơng sự; - Lƣu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |