vanban.org

Bản án 68/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H đƣợc ly hôn với anh Đặng Ngọc P. Về con chung: Buộc anh Đặng Ngọc P giao 03 cháu tên Đặng Thị Kim P1, sinh ngày 24/01/2016, Đặng Ngọc Duy P2, sinh ngày 24/01/2016, Đặng Thị Hoài T, sinh ngày 24/01/2016 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng. Buộc chị Nguyễn Thị H gia… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Nguyễn Thị H xin ly hôn với anh Đăng Ngoc P"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ D

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 68/2017/HNGĐ - ST
Ngày: 24 - 8 - 2017
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ D, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa Phiên tòa: Bà Kiều Thị Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Phú Tâm;

Bà Nguyễn Ngọc Diệp.

- Thư ký Phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụy - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân thị xã D, tỉnh Bình Dương tham gia Phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã D xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 420/2017/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 65/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2017 giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Thƣờng trú: 2/38, đƣờng 17, khu phố 5, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Anh Đặng Ngọc P, sinh năm 1986. (Vắng mặt).

Thƣờng trú: 2/38, đƣờng 17, khu phố 5, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tạm trú: 4/38, khu phố B3, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 31/5/2017 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Đặng Ngọc P trƣớc khi kết hôn có thời gian tìm hiểu nhau khoảng vài tháng, đến năm 2011 thì tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 80, quyển số 01/2011 cấp ngày 24/6/2012.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống không hạnh phúc, do anh P không lo làm ăn, vợ chồng thƣờng xuyên cãi vã, anh P thƣờng xuyên mắng chửi và đánh đập chị H. Từ tháng 3/2015 do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng chị H cùng con đi ở nơi khác, sau đó vợ chồng trao đổi và đoàn tụ. Nhƣng khi vợ chồng đoàn tụ thì anh P không thay đổi, thêm vào đó áp lực của gia đình nhà chồng nên mâu thuẫn của vợ chồng không đƣợc giải quyết. Đến ngày 11/5/2017 anh P đánh chị H nên chị đã chuyển đi nơi khác sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay.

Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể kéo dài nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Đặng Ngọc P.

Về con chung: Vợ chồng có 04 con chung tên Đặng Nhất P, sinh ngày 08/6/2013, Đặng Thị Kim P1, sinh ngày 24/01/2016, Đặng Ngọc Duy P2, sinh ngày 24/01/2016, Đặng Thị Hoài T, sinh ngày 24/01/2016. Chị H có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng 03 con chung tên Đặng Thị Kim P1, Đặng Ngọc Duy P2, Đặng Thị Hoài T, để cho anh Đặng Ngọc P trực tiếp nuôi dƣỡng Đặng Nhất P, không đặt ra vấn đề cấp dƣỡng nuôi con.

Hiện nay chị H làm công nhân may, thu nhập trung bình khoảng 6.000.000 đồng/01 tháng. Anh P khi còn ở chị H không có công việc ổn định, thu nhập bao nhiêu chị H không biết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 13/6/2017 và lời khai trong quá trình tố tụng bị đơn anh Đặng Ngọc P trình bày:

Về hôn nhân: Anh Đặng Ngọc P Thống nhất với lời khai của chị Nguyễn Thị H về thời gian tìm hiểu, quá trình chung sống. Vợ chồng sống với nhau hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị H không quan tâm chăm sóc anh P. Tháng 3/2015, chị H đi ra khỏi nhà khoảng 01 tháng rồi quay trở về, đến tháng 5/2017 chị H tiếp tục bỏ đi khỏi nhà cho tới nay, lý do vì sao chị H đi khỏi nhà anh P không biết. Anh P xác định vẫn còn tình cảm với chị H và các con còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của cha và mẹ nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh P thống nhất với lời khai của chị H về số con chung và ngày tháng năm sinh của các con. Nếu tòa giải quyết cho vợ chồng ly hôn, anh P có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng 04 con chung, không yêu cầu chị H cấp dƣỡng nuôi con.

Hiện nay anh P là nhân viên của Công ty TNHH Joyme (suất ăn công nghiệp), đi làm từ ngày 06/6/2017, lƣơng căn bản 5.5000.000 đồng/1 tháng, ngoài ra còn có tiền tăng ca, tiền làm thêm ngày chủ nhật. Chị H làm nghề gì thu nhập bao nhiêu anh P không biết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh P không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Biên bản xác minh ngày 13/6/2017 của Tòa án nhân dân thị xã D tại khu phố B3, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng thể hiện: Anh Đặng Ngọc P và Nguyễn Thị H là vợ chồng, trong quá trình chung sống vợ chồng thƣờng xuyên phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, đánh đập nhau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn đƣợc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa, tuy nhiên có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào ngày 04/8/2017 và ngày 24/8/2017 nhƣng vắng mặt không có lý do, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định. Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về điều kiện thụ lý vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H thì đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ tạm trú tại phƣờng An Bình, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đƣơng sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 04/8/2017 và ngày 24/8/2017 nhƣng đều vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đƣơng sự trên.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Đặng Ngọc P là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 80, quyển số 01/2011 cấp ngày 24/6/2012 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt đƣợc mục đích đó, vợ chồng phải thƣơng yêu, quý trọng, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đặng Ngọc P, theo thừa nhận của các bên thì mâu thuẫn vợ chồng đã xảy từ nhiều năm nay do vợ chồng tính tình không hợp, không quan tâm chăm sóc nhau, thƣờng xuyên cãi vãi và đánh nhau. Tại Biên bản xác minh ngày 13/6/2017 của Tòa án nhân dân thị xã D tại khu phố Bình Đ3, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng xác định trong quá trình chung sống, anh Đặng Ngọc P và Nguyễn Thị H thƣờng xuyên phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, đánh đập nhau. Hội đồng xét xử nhận thấy mặc dù anh Đặng Ngọc P không đồng ý ly hôn nhƣng bản thân anh P không đƣa ra đƣợc phƣơng án để vợ chồng hàn gắn tình cảm. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh P đã trầm trọng, không thể khắc phục đƣợc. Vì vậy, xét thấy không thể kéo dài cuộc sống chung nên yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H là có cơ sở phù hợp với quy định của Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Chị H có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi 03 con chung tên Đặng Thị Kim P1, Đặng Ngọc Duy P2, Đặng Thị Hoài T, để cho anh Đặng Ngọc P trực tiếp nuôi dƣỡng Đặng Nhất P, không đặt ra vấn đề cấp dƣỡng nuôi con. Anh P có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng 04 con chung, không yêu cầu chị H cấp dƣỡng nuôi con. Tuy nhiên, việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dƣỡng cần phải xem xét về mọi mặt, quyền lợi của con chƣa thành niên. Xét thấy cháu Đặng Thị Kim P1, Đặng Ngọc Duy P2, Đặng Thị Hoài T dƣới 36 tháng tuổi, còn rất nhỏ nên cần sự chăm sóc trực tiếp của ngƣời mẹ nên căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình có cơ sở chấp nhận nguyện vọng của chị Nguyễn Thị H về việc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung tên Đặng Thị Kim P1, Đặng Ngọc Duy P2, Đặng Thị Hoài T, giao con chung tên Đặng Nhất P cho anh Đặng Ngọc P trực tiếp nuôi dƣỡng. Về việc cấp dƣỡng nuôi con: Các đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị H và anh P không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích nêu trên, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H đƣợc ly hôn với anh Đặng Ngọc P.

2. Về con chung: Buộc anh Đặng Ngọc P giao 03 cháu tên Đặng Thị Kim P1, sinh ngày 24/01/2016, Đặng Ngọc Duy P2, sinh ngày 24/01/2016, Đặng Thị Hoài T, sinh ngày 24/01/2016 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng. Buộc chị Nguyễn Thị H giao cháu tên Đặng Nhất P, sinh ngày 08/6/2013 cho anh Đặng Ngọc P trực tiếp nuôi dƣỡng. Không ai phải cấp dƣỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Thị H và anh Đặng Ngọc P đều có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dƣỡng.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0009501 ngày 07/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

5. Đƣơng sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ