vanban.org

Bản án 679/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/09/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Nguyễn Thị Bích P có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T số tiền nợ còn thiếu là 23.153.000 ( Hai mươi ba triệu một trăm năm mươi ba ngàn) đồng; Trong đó gồm: nợ gốc là 16.820.511đồng và nợ lãi 6.332.489 đồng, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ghi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án: số 679 ngày 26/09/2017 của TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN Hướng dẫn tổ chức tín dụng cho v…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 679/2017/DS-ST
Ngày: 26-9-2017
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tưởng Công Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Liễu

Bà Nguyễn Kim Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa:

Ông Trần Minh Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 270/2017/DSST ngày 19 tháng 6 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1853/2017/QĐXX- DS ngày 18 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 2067/2017/QĐST- DS ngày 05 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T

Trụ sở: Số 89 đường L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Trụ sở chi nhánh: Số 165-167-169 đường H, phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn:

Ông Ngô Chí D - Chủ tịch Hội đồng quản trị;

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

Bà Lương Thị Thanh T, sinh năm 1990; Địa chỉ: Lầu 5 số 144 đường C, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)

(Theo văn bản ủy quyền số: 587/2017/UQ-GĐK-TDTD ngày 23/5/2017).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số 56/7 đường B, Phường S, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 5 năm 2017 và trong quá trình xét xử đại diện nguyên đơn bà Lương Thị Thanh T trình bày:

Ngày 20 tháng 10 năm 2013, bà Nguyễn Thị Bích P có ký hợp đồng tín dụng số 20131024-100214-0007 với Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T (Gọi tắt là Ngân hàng) để vay số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 3.75%/tháng, mục đích vay là để tiêu dùng. Theo thỏa thuận tại hợp đồng bà P có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền 50.798.000 đồng (gồm cả gốc và lãi) trả chậm trong vòng 30 tháng, 29 tháng đầu mỗi tháng trả 1.683.000 đồng. Tháng cuối cùng trả 1.991.000 đồng, thanh toán vào ngày 01 hàng tháng. Bắt đầu từ ngày 01/12/2013.

Thực hiện hợp đồng bà P đã nhận đủ số tiền và đã thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T được 15 lần với số tiền 27.645.000 đồng. Ngày 22/9/2015 bà P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán dù Ngân hàng đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở. Vì vậy, Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Bích P thanh lý hợp đồng trả khoản tiền bao gồm: trả toàn bộ khoản nợ tới hạn: 23.153.000 đồng (trong đó gồm nợ gốc là 16.820.511đồng và nợ lãi 6.332.489 đồng), không yêu cầu tính lãi từ thời điểm bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật. Yêu cầu trả một lần ngay khi bản án quyết định của Tòa có hiệu lực pháp luật và nguyên đơn không yêu cầu tính lãi phát sinh do bị đơn chậm thi hành án.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ và triệu tập bà Nguyễn Thị Bích P đến Tòa án để lấy lời khai nhưng bà P không đến. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú của bà P tại địa chỉ số 56/7 đường B, Phường S, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng bà P không thực tế cư trú tại địa phương và chuyển đi đâu không rõ địa chỉ. Tòa án đã yêu cầu Nguyên đơn cung cấp chứng cứ nơi cư ngụ của bà P, tuy nhiên bà P đã chuyển đi ở nơi khác không thông báo cho Ngân hàng. Vì vậy, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T yêu cầu Tòa án niêm yết tại nơi cư trú cuối cùng của bà P tại địa chỉ số 56/7 đường B, Phường S, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử vắng mặt bà P.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà P không đến vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được mặc dù Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bà P hợp lệ theo quy định pháp luật. Tòa án đưa vụ kiện ra xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt phiên tòa . Chủ tọa phiên tòa công bố bản tự khai ngày 10 tháng 7 năm 2017; Biên bản về việc không tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 31/7/2017 và ngày 18/8/2017; đơn xin vắng mặt ngày 25/9/2017 và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T do bà Lương Thị Thanh T là đại diện theo ủy quyền vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị Bích P phải trả số tiền nợ còn thiếu phát sinh từ hợp đồng tín dụng số 20131024-100214-0007 ngày 20/10/2013, tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 23.153.000 đồng (trong đó gồm nợ gốc là 16.820.511 đồng và nợ lãi 6.332.489 đồng) và không yêu cầu tính lãi từ thời điểm bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Thanh toán trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và nguyên đơn không yêu cầu tính lãi phát sinh do bị đơn chậm thi hành án.

Bà P là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:

-Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi xét xử thấy rằng Thẩm phán đã thực hiện đúng và đầy đủ nội dung quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Trong quá trình giải quyết vụ án về thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa nhưng người tham gia tố tụng, đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp công khai chứng cứ và hòa giải. Thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng .

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử : Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về phiên tòa sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Nguyễn Thị Bích P phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T là 23.153.000 đồng. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và nguyên đơn không yêu cầu tính lãi phát sinh do bị đơn chậm thi hành án.

Bị đơn phải chịu án phí theo quy định. Hoàn lại tiền nộp án phí cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết :

Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T khởi kiện bị đơn bà Nguyễn Thị Bích P về yêu cầu trả số tiền nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng số 20131024-100214-0007 ngày 20/10/2013 được ký kết giữa hai bên. Bị đơn bà P có nơi cư trú cuối cùng tại số 56/7 đường B, Phường S, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà P theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 và khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20131024-100214-0007 ngày 20/10/2013 đã ký giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T với bà Nguyễn Thị Bích P cũng như trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay cho thấy việc giao kết hợp đồng tín dụng giữa các bên là có thật. Nội dung các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật tại các Điều 91 và 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký bà P vay số tiền 30.000.000 đồng và phải thanh toán cho Ngân hàng 30 kỳ. Tuy nhiên sau khi nhận đủ số tiền vay, bà P mới chỉ thanh toán được cho Ngân hàng 15 kỳ với tổng số tiền là 27.645.000 đồng, như vậy bà P còn phải trả 23.153.000 đồng tiền nợ gốc và lãi. Bà Phượng đã vi phạm nghĩa vụ về thời gian thanh toán nợ gốc theo như hợp đồng đã ký kết vì vậy yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T buộc bà Phượng phải trả số tiền nợ gốc là 16.820.511 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.

Về nợ lãi:

Căn cứ Mục 2.2 Điều 2 Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 20140106-500001-0028 đã ký ngày 07/01/2014 lãi suất các bên thỏa thuận là 3.75%/tháng.

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 17/6/2010 quy định “… Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Căn cứ tại Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn Tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.

Hội đồng xét xử nhận thấy việc thỏa thuận lãi suất giữa các bên là phù hợp với quy định của pháp luật. Theo đó việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi là 6.332.489 đồng và trả số tiền này một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật và không yêu cầu tính lãi từ thời điểm bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở và có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét việc nguyên đơn yêu cầu trả số tiền vốn và lãi 23.153.000 đồng (vốn 16.820.511 đồng + lãi 6.332.489 đồng = 23.153.000 đồng) một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy số tiền trên bị đơn nợ nguyên đơn đã lâu đến nay chưa trả là gây thiệt hại rất nhiều cho nguyên đơn. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán số tiền trên một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về tiền lãi suất chậm thi hành án: Tiền lãi phát sinh do chậm thi hành án nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải trả thêm số tiền lãi kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án. Yêu cầu này của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và có lợi cho bị đơn do đó Hội đồng xét xử ghi nhận.

. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự quy định về nghĩa vụ nộp án phí và Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí. Hoàn trả 578.825 đồng tiền tạm nộp án phí cho nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí tương đương với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận là 23.153.000 đồng. Do đó bị đơn phải chịu án phí là 1.157.650 đồng.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 220, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273, Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 17/6/2010;

- Căn cứ vào Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn Tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận;

- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Nguyễn Thị Bích P có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T số tiền nợ còn thiếu là 23.153.000 ( Hai mươi ba triệu một trăm năm mươi ba ngàn) đồng; Trong đó gồm: nợ gốc là 16.820.511đồng và nợ lãi 6.332.489 đồng, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ghi nhận sự tự nguyện của Nguyên đơn đối với việc không yêu cầu Bị đơn chịu lãi suất phát sinh do bị đơn chậm thi hành án.

Việc giao nhận tiền được thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Bích P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.157.650 (Một triệu một trăm năm mươi bảy ngàn sáu trăm năm mươi) đồng.

Hoàn lại số tiền 578.825 (Năm trăm bảy mươi tám ngàn tám trăm hai mươi lăm) đồng tiền tạm nộp án phí cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T theo biên lai thu số AA/2016/0018745 ngày 12/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp.

3.Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tại địa phương.

Cỡ chữ