- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim T và anh Trần Ngọc Q.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 677/2020/ HNGĐ-ST Ngày 06-8-2020 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Trần Duyên Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Long.
2. Bà Trần Thị Bích Hợp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trâm là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Lý – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 268/2020/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2020 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2020/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim T, cư trú tại: Số nhà Y, đường A, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Trần Ngọc Q, cư trú tại: Thôn T, xã P, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 4 năm 2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim T trình bày:
Chị và anh Trần Ngọc Q tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thành phố Q vào ngày 25-12-2018. Thời gian đầu, vợ chồng chị chung sống khá hạnh phúc; nhưng hiện nay tình cảm vợ chồng không còn do xảy ra nhiều mâu thuẫn, biến cố khiến cho mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng chị đã chính thức ly thân từ ngày 10-02-2019 đến nay. Trong thời gian ly thân, chị đã nhiều lần khuyên giải để đảm bảo hạnh phúc gia đình nhưng anh Q vẫn không hề thay đổi, ngược lại còn hay nhậu nhẹt, say xỉn. Chị đã gửi đơn ly hôn tại Tòa án 01 lần vì bị chồng bạo lực tinh thần, xúc phạm, ngược đãi đến danh dự, nhân phẩm, đe dọa tính mạng của chị và con nhỏ, nhưng sau đó đã rút đơn để cho thời gian anh Q thay đổi. Cuộc sống đã áp lực khi một mình phải chịu đựng nhiều thứ, đời sống vợ chồng lại không thể hòa hợp, hạnh phúc như lúc đầu khi đã hết niềm tin yêu. Cho nên, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Vợ chồng chị có 01 con chung là Trần Đăng K (sinh ngày 31-3-2019), sức khỏe bình thường, đang ở với mẹ. Nếu ly hôn thì chị yêu cầu được nuôi cháu K, anh Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Hiện tại, sức khỏe của chị bình thường, không có mang thai; chị đang làm nhân viên văn thư – lưu trữ tại Trường Trung học cơ sở B, thành phố Q với thu nhập 2.400.000 đồng/tháng; công việc của anh Q là buôn bán đất cát tại xã P với thu nhập bao nhiêu thì chị không hề hay biết. Về tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, vợ chồng chị không có khoản nợ chung nào.
* Bị đơn anh Trần Ngọc Q đã được Tòa án tống đạt thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa, không cung cấp lời khai hay tài liệu, chứng cứ.
* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự, còn bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị: Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình; chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T; giao cháu K cho chị T nuôi dưỡng, anh Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con trưởng thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Chị Nguyễn Thị Kim T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và nuôi con chung. Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn đã thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Trần Ngọc Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa lần hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Cho nên, theo khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Chị Nguyễn Thị Kim T và anh Trần Ngọc Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thành phố Q vào ngày 25-12-2018, không vi phạm điều kiện kết hôn, nên hôn nhân giữa chị T và anh Q là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị T và anh Q đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn, cả hai không tìm được tiếng nói chung; từ đó, chị T đã đưa con nhỏ về nhà mẹ để ở, ly thân chồng từ năm 2019 đến nay. Chị T đã từng gửi đơn ly hôn ra Tòa nhưng sau đó đã tự nguyện rút đơn để vợ chồng tự hàn gắn; Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 935/2019/QĐST-HNGĐ ngày 03-10-2019. Thế nhưng, từ đó đến nay, anh Q chẳng những không thể giải quyết được mâu thuẫn của vợ chồng mà còn làm cho tình trạng hôn nhân trở nên trầm trọng. Tòa án đã kiên trì phân tích, hòa giải nhưng chị T vẫn kiên quyết xin ly hôn còn anh Q không chịu đến Tòa, có ý thức bỏ mặc cho quan hệ hôn nhân của mình, nên không thể hòa giải đoàn tụ được. Xét mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T, anh Q đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, theo khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa chấp nhận cho chị T được ly hôn anh Q.
Vợ chồng chị T, anh Q có 01 con chung là Trần Đăng K (sinh ngày 31-3-2019). Từ khi vợ chồng ly thân, cháu K ở với mẹ và vì cháu K chưa đủ 36 tháng tuổi cho nên việc chị T xin được nuôi con là có cơ sở chấp nhận; anh Q không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho đến khi con trưởng thành, mức cấp dưỡng nuôi con theo chị T yêu cầu 2.000.000 đồng/tháng là phù hợp với điều kiện thực tế và nhu cầu thiết yếu của con, phù hợp với các Điều 58, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về tài sản chung, các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm, theo điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị T phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp; anh Q phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.
Ý kiến của Kiểm sát viên về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim T và anh Trần Ngọc Q.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao cho chị Nguyễn Thị Kim T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Đăng K (sinh ngày 31-3-2019) – cháu K đang ở với mẹ.
2.2. Anh Trần Ngọc Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu K hàng tháng mỗi tháng là 2.000.000 đồng, kể từ tháng 8-2020 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Chị Nguyễn Thị Kim T phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007778 ngày 29 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
3.2. Anh Trần Ngọc Q phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.
4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
4.1. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định; - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn; - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Quy Nhơn; - UBND xã P, Tp. Q; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Trần Duyên Anh |