vanban.org

Bản án 675/2017/HSPT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/12/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/12/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Thành Đ - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

!!!!!!!TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH
Bản án số: 675/2017/HSPT
Ngày: 21/12/2017

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

Với!thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!phúc!thẩm!gồm!có:!

Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Hà

Các"Thẩm"phán:

1/ Bà Phạm Uyên Thy

2/ Bà Nguyễn Thị Hà

Thư"ký"ghi"biên"bản"phiên"tòa: Bà Hà Quỳnh Nga – Cán bộ Tòa án nhân

dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"tham"gia"phiên"

tòa: Ông Nguyễn Thanh Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 626/2017/HSPT ngày

02/11/2017, thông báo về việc mở phiên tòa xét xử phúc thẩm ngày 27/11/2017

đối với bị cáo Trương Thành Đ. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án

hình sự sơ thẩm số 219/2017/HSST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận A,

Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị"cáo"có"kháng"cáo:"

Trương! Thành! Đ; giới tính: Nam; sinh năm: 1992 tại tỉnh B; hộ khẩu

thường trú: Thôn T, xã D, huyện Y, tỉnh B; nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất

định; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Phục vụ; trình độ văn hóa: 10/12; con

ông Trương N và bà Nguyễn Thị H; hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Nguyễn Thị

Diệu L (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm

giam từ ngày 16/5/2017. (Có mặt)

NHẬN!THẤY:"

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận A và Bản án hình

sự sơ thẩm của Toà án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ ngày 16/5/2017, tại trước nhà số 212 đường C,

Phường L, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, trinh sát Đội Cảnh sát điều tra tội

phạm Công an Quận A phát hiện Trương Thành Đ ngồi trên xe mô tô biển số 54Y2-57XX có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra thu giữ trong hộc đựng đồ bên phải xe mô tô Đ đang điều khiển 01 khẩu trang y tế màu xanh bên trong có 06 viên nén tròn màu xanh khắc chữ VL và 02 gói nylon bên trong chứa chất bột màu trắng, Đ khai là ma túy dùng để bán nên bắt giữ Đ đưa về Công an Phường L, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận A để điều tra xử lý.

Tại Cơ quan điều tra, Trương Thành Đ khai nhận: Vào lúc 21 giờ

30 phút ngày 15/5/2017, Đ mua ma túy của một người tên TN (không rõ lai lịch) trên đường E, phường G, Quận A với giá 2.820.000 đồng, mục đích để sử dụng. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 16/5/2017, Trần Hoàng P điện thoại cho Đ hỏi mua ma túy để đãi sinh nhật bạn, lúc này Đ mới nảy sinh ý định bán để hưởng lợi nên đã thỏa thuận bán lại ma túy cho P với giá 3.200.000 đồng, hưởng lợi 380.000 đồng. Đ hẹn P đến trước số 212 đường C, Phường L, Quận A để giao nhận ma túy nhưng chưa kịp giao thì bị phát hiện, bắt giữ.

Qua truy xét, vào khoảng 23 giờ 45 phút ngày 15/5/2017, Cơ quan điều

tra Công an Quận A bắt giữ được Trần Hoàng P đã có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại trước nhà số 210/1 đường C, Phường L, Quận A. Qua quen biết ngoài xã hội, P liên hệ số điện thoại 09059422YY gặp Trương Thành Đ để liên lạc mua ma túy nhưng chưa nhận thì bị bắt giữ. P khai nhận trước ngày 16/5/2017, P đã mua ma túy của Đ được 02 lần. Tuy nhiên, Đ không thừa nhận đã bán ma túy cho P hai lần trước đó, ngoài lời khai của P thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác xác định Đ có hành vi mua bán ma túy nhiều lần nên không đủ cơ sở xử lý định về hành vi mua bán ma túy nhiều lần. Đối với Trần Hoàng P, ngày 18/5/2017, Cơ quan Cánh sát điều tra Công an Quận A đã khởi tố xử lý ở một vụ án khác.

Theo Kết luận giám định số 943/KLGĐ-H ngày 18/7/2017 của Phòng Kỹ

thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh: 01 gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trương Thành Đ và hình dấu Công an Phường L, Quận A gửi đến giám định. Bên trong có 01 khẩu trang y tế màu xanh chứa: 06 viên nén hình tròn màu xanh có khắc chữ VL là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,1706g loại MDMA; tinh thể không màu trong 02 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4666g loại Ketamine.

Tại Bản cáo trạng số 140/Ctr-VKS ngày 22/8/2017 của Viện kiểm sát

nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trương Thành Đ

về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình

sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 219/2017/HSST ngày 22/9/2017 của Tòa án

nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận định Trương Thành Đ đã có

hành vi mua bán trái phép chất ma túy với trọng lượng 2,1706g loại MDMA và

0,4666g loại Ketamine, tổng trọng lượng là 2,6372g. Từ đó, quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trương!Thành!Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma

túy”.

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật

Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trương! Thành! Đ 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ

ngày 16/5/2017.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án

phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 05/10/2017, bị cáo Trương Thành Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình

phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Trương Thành Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình như án sơ

thẩm đã tuyên, đồng thời giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt

và cho rằng bị cáo bị Trần Hoàng P điện thoại nhiều lần hỏi mua ma túy nên bị cáo

mới chấp nhận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội

đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo vì không có tình tiết giảm

nhẹ nào mới.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc

thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ,

toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên.

XÉT!THẤY:!

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trương Thành Đ đã khai nhận toàn bộ

hành vi phạm tội của mình như án sơ thẩm đã tuyên, lời khai nhận tội của bị cáo

phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các căn cứ

khác có trong hồ sơ. Từ đó, xác định được: Khoảng 01 giờ ngày 16/5/2017 tại

trước nhà số 212 đường C, Phường L, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh,

Trương Thành Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán cho người

khác thì bị bắt quả tang, thu giữ trong học đồ bên phải xe mô tô Đ đang điều

khiển một khẩu trang y tế màu xanh bên trong có 06 viên nén tròn màu xanh khắc chữ VL, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,1706g loại MDMA và 02 gói nylon bên trong chứa chất bột màu trắng, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4666g loại Ketamine, tổng khối lượng là 2,6372g loại MDMA và Ketamine. Hành vi của bị cáo Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Đối với lời khai của Trần Hoàng P về việc Trương Thành Đ đã bán ma túy cho P hai lần trước đó nhưng Đ không thừa nhận. Do không có chứng cứ pháp lý nào khác xác định có việc mua bán này nên không có căn cứ xác định bị cáo Đ đã phạm tội nhiều lần. Bản án hình sự sơ thẩm số 219/2017/HSST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử bị cáo Đ về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét đơn kháng cáo của bị cáo Trương Thành Đ làm trong thời hạn luật

định là hợp lệ nên thuộc trường hợp được xem xét tại cấp phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không

đưa ra được tình tiết nào mới để Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự nhưng cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo là có thiếu sót. Tuy nhiên, mức hình phạt mà bản án sơ thẩm quyết định đối với bị cáo là tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị

nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

Vì"các"lẽ"trên,"

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

QUYẾT!ĐỊNH:!

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương! Thành! Đ, giữ nguyên

bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo! Trương! Thành! Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất

ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật

Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trương! Thành! Đ 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ

ngày 16/5/2017.

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày

hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

Cỡ chữ