vanban.org

Bản án 67/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,01 gam Heroine đã trích toàn bộ gửi giám định không hoàn lại mẫu vật sau giám định và 0,19 gam Methamphetamine đã trích 0,1 gam gửi giám định không hoàn lại còn 0,09 gam Methamphetamine. Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn B tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 67/2022/HSST
Ngày: 26/7/ 2022
ơ

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thu Hiền.

2. Bà Đồng Thị Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2022, tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ công an huyện Điện Biên Đông, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 69/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Quàng Văn B (tên gọi khác: không); Sinh năm: 1966 tại huyện T, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Bản S, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Quàng Văn S ( đã chết) và bà Tòng Thị T (đã chết); có vợ là Quàng Thị M, sinh năm 1967 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1991. Tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/4/2022 đến ngày 13/4/2022 tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Quàng Thị T, sinh năm 1985, trú tại bản S, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 04/4/2022, Quàng Văn B mượn xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave RSX, biển kiểm soát 27B1-833.13 của gia đình con trai Quàng Văn D trú tại bản S, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên ra thị trấn Đ mua xăng. Sau khi mua được xăng, trên đường quay về nhà đến khu vực bản C, xã K, huyện Đ Quàng Văn B gặp một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) hỏi mua được một gói Heroine và 02 viên ma túy tổng hợp giá 90.000đ. Sau khi mua được ma túy, Quàng Văn B cất giấu tại túi quần bên phải đang mặc rồi tiếp tục điều khiển xe về nhà, khi đến khu vực bản K, xã K thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang.

Vật chứng công an thu giữ của bị cáo Quàng Văn B gồm 01 gói nilon chứa chất bột trắng nghi là Heroine; 01 gói nilon chứa 02 viên nén màu hồng nghi Methamphetamine và một xe máy Honda loại Wave RSX, biển kiểm soát 27B1-833.13

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 04/4/2022 xác định: số chất bột trắng thu của Quàng Văn B có khối lượng 0,01 gam gửi toàn bộ đi giám định; hai viên nén màu hồng có khối lượng 0,19 gam trích 0,1 gam gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 502/KL-KTHS ngày 10/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Quàng Văn B gồm 0,01 gam chất bột trắng và 0,19 gam viên nén màu hồng. Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Quàng Văn B gửi giám định là chất ma túy loại Heroine; mẫu viên nén màu hồng gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, không hoàn lại đối tượng gửi giám định.

Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 16/QĐ ngày 27/5/2022 trả chiếc xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave RSX, biển kiểm soát 27B1-833.13 cho bà Quàng Thị T, sinh năm 1985, trú tại bản S, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.

Cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Quàng Văn B vào ngày 04/4/2022.

Tại Cáo trạng số 43/CT-VKSĐBĐ ngày 05/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Quàng Văn B về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Quàng Văn B về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Quàng Văn B từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 08 tháng tù; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu và tiêu hủy 0,09 Methamphetamine còn lại sau khi giám định; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Quàng Thị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai thể hiện chiếc xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave RSX, biển kiếm soát 27B1-833.13 là tài sản thuộc sở hữu của hai vợ chồng bà. Do chồng đi làm ăn ở Hà Nội nên để xe ở nhà cho bà sử dụng, vào sáng ngày 04/4/2022 bị cáo Quàng Văn B là bố chồng đến mượn đi mua xăng ở thị trấn Đ sau đó sử dụng phạm tội bà không biết nên thay mặt gia đình bà xin lại và đã được cơ quan điều tra trả cho bà vào ngày 28/5/2022, bà không có ý kiến gì thêm về vấn đề này.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không bào chữa về hành vi, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét hành vi của bị cáo Quàng Văn B thấy rằng:

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,01 gam Heroine và 0,19 gam Methamphetamine vào ngày 04/4/2022 nhằm sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 04/4/2022, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo cất giấu 02 chất ma túy là Heroine và Methamphetamine đều được quy định trong điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì khối lượng của các chất ma túy bị cáo phải chịu trách nhiệm là 0,2 gam (0,01 gam Heroine + 0,19 gam Methamphetamine = 0,2 gam). Tổng khối lượng 02 chất ma túy thu giữ của bị cáo tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi tàng trữ trái phép 0,2 gam chất ma túy của bị cáo Quàng Văn Biến là hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp nghiêm trọng bị pháp luật nghiêm cấm bởi lẽ chất ma túy là chất gây nghiện có hại cho sức khỏe chính người sử dụng và là nguyên nhân của các tai tệ nạn và tội phạm khác phát sinh trong xã hội, gây mất ổn định trật tự trị an, an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước; bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự cố ý mua tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy nên phải chịu trách nhiệm như ngày hôm nay.

Như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, không oan sai. Điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. ....

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Bản thân bị cáo Quàng Văn B không có tiền án, tiền sự; nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội xuất phát từ việc nghiện chất ma túy mua tàng trữ, sử dụng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm cho hành vi mình đã thực hiện. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ phân tích về hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử chấp nhận mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập chỉ dựa vào làm ruộng, tài sản trong gia đình chỉ là những vật dụng thiết yếu do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về vật chứng vụ án: 0,01 gam Heroine và 0,19 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy toàn bộ theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Hội đồng xét xử chấp nhận việc cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 16/QĐ ngày 27/5/2022 trả chiếc xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave RSX, biển kiếm soát 27B1-833.13 cho bà Quàng Thị T, sinh năm 1985, trú tại bản S, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên vì đã chứng minh làm rõ chiếc xe này bị cáo mượn của bà T đi mua xăng, bà T không biết bị cáo sử dụng đi mua chất ma túy.

. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

. Về các vấn đề khác trong vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo có khai người bán ma túy cho bị cáo là một người đàn ông dân tộc Mông tuy nhiên do không có đủ thông tin nên cơ quan điều tra điều tra làm rõ, đo đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn B (tên gọi khác: không) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Quàng Văn B 01 năm 02 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04/4/2022.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,01 gam Heroine đã trích toàn bộ gửi giám định không hoàn lại mẫu vật sau giám định và 0,19 gam Methamphetamine đã trích 0,1 gam gửi giám định không hoàn lại còn 0,09 gam Methamphetamine.

Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 16 giờ 0 phút ngày 05/7/2022 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn B.

4. Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 26 tháng 7 năm 2022. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ