- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A K - Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2026/HS-ST Ngày 28-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Tiến Hiệt và ông Hà Chí Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Thiết Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 04 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2026/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2026, đối với bị cáo:
Vàng A K, sinh ngày 07/12/1980, tại xã P, tỉnh Sơn La; Số CCCD 015080009176; nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Bản H, xã P, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng Cả T, sinh năm 1956 và bà Hờ Thị C, sinh năm 1961, bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, Tiền Sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Sơn La từ ngày 22/12/2025 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 22/12/2025, trên đường từ nương về nhà tại khu vực đường dân sinh thuộc bản H, xã P, tỉnh sơn La, bị cáo nhìn thấy 04 viên hồng phiến rơi trên đường, do bản thân là người sử dụng ma túy nên bị cáo đã nhặt 04 viên hồng phiến, cầm trên tay phải rồi đi bộ về nhà, với mục đích để sử dụng cho bản thân. Khi về đến nhà Vàng A K để 04 viên hồng phiến trên bàn cạnh giường ngủ, đến khoảng 21 giờ cùng ngày bị cáo lấy 01 viên hồng phiến ra sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể, sau đó bị cáo bị tổ công tác công an xã P đến kiểm tra, phát hiện và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vàng A K, thu giữ 03 viên hồng phiến còn lại, cùng 01 bật lửa gas màu đỏ nhãn hiệu THONGNHAT đã qua sử dụng, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy xém.
Ngày 23 tháng 12 năm 2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Vàng A K, trích rút mẫu để giám định, kết quả: Khối lượng toàn bộ viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp thu giữ khi bắt quả tang Vàng A K là 0,3 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định, ký hiệu M.
Tại kết luận giám định số 102/KL-KTHS ngày 26 tháng 12 năm 2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
“Mẫu ký hiệu M gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,3 gam.
Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.
Do có hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số: 18/CT-VKSKV4 ngày 06 tháng 4 năm 2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Sơn La truy tố Vàng A K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo Vàng A K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bản thân thực hiện là bị cáo đã tàng trữ trái phép 0,3 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.
* Tranh luận tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025:
Tuyên bố bị cáo Vàng A K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Vàng A K từ 38 tháng đến 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2025 là ngày bắt tạm giữ đối với bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa gas màu đỏ nhãn hiệu THONGNHAT đã qua sử dụng, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy xém
- Về án phí: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A K.
Ý kiến của bị cáo Vàng A K tự bào chữa: Bị cáo nhất trí với cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Sơn La, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 22/12/2025 bị cáo Vàng A K đã tàng trữ trái phép 0,3 gam Methamphetamine, mục đích sử dụng cho bản thân sau đó bị cáo bị tổ công tác Công an xã P, tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La lập hồi 23 giờ 30 phút ngày 22/12/2025; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng lập hồi 14 giờ 00 phút ngày 23/12/2025; Kết luận giám định số: 102KL-KTHS ngày 26/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La…
Lời khai nhận tội của bị cáo Vàng A K tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa.
Với các căn cứ chứng minh nêu trên có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Vàng A K đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La truy tố đối với bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ.
Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Vàng A K thực hiện hành vi phạm tội với tổng khối lượng ma túy tàng trữ trái phép là 0,3 gam Methamphetamine, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “….Methamphetamine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, có mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo Vàng A K là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vàng A K thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về mức hình phạt áp dụng: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Vàng A K nhận thức rõ hành vi tàng trữ, sử dụng chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng vì vậy cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ, các tình tiết về nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đảm bảo biện pháp giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương và răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo Vàng A K còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025 “...người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo Vàng A K không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 01 bật lửa gas màu đỏ nhãn hiệu THONGNHAT đã qua sử dụng, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy xém, xét thấy đây là loại vật chứng liên quan đến việc phạm tội của bị cáo, vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ của Vàng A K: Bị cáo khai nhặt được tại đường dân sinh thuộc bản H, xã P, tỉnh Sơn La, ngoài bị cáo không có ai được biết và chứng kiến nên cơ quan CSĐT công an tỉnh Sơn La không có căn cứ xác minh làm rõ.
Về án phí: Bị cáo Vàng A K là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A K.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025:
Tuyên bố bị cáo Vàng A K phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Vàng A K 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2025 (Ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa gas màu đỏ nhãn hiệu THONGNHAT đã qua sử dụng, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy xém
(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 57/BB-PTHADS, ngày 09/4/2026 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A K.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự: Bị cáo Vàng A K được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 28/4/2026). [Nơi nhận:
| - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND Khu vực 4 - Sơn La; - Công an tỉnh Sơn La; - Trại giam; - Chi cục THADS Khu vực 4 - Sơn La; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Văn Hải |