- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trường V - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt áp dụng:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2026/HS-ST Ngày: 30 - 7 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Tại điểm cầu trung tâm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Bé và bà Đào Thị Thu Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Duy Tín - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần: Bà Nguyễn Thị Diễm T – Kiểm sát viên và Ông Võ Xuân H – Thư ký Tòa án.
Ngày 30 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – An Giang xét xử sơ thẩm bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2026/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2026/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:
Lê Trường V, sinh ngày 12/10/2004; nơi sinh: tại tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp T, xã C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T1, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1968; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 08/8/2024, bị Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh An Giang ra Quyết định số 453, cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong ngày 08/8/2025. Ngày 13/8/2025, Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh An Giang ra Quyết định số 454, quản lý sau cai nghiện ma túy, thời gian 12 tháng từ ngày 13/8/2025 đến 13/8/2026. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2026 đến nay. Bị cáo có mặt.
Người làm chứng: Ông Lê Văn T1, (có mặt); bà Trần Thị M, (vắng mặt).
(Bị cáo tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần; người tham gia tố tụng khác tham gia tại điểm cầu trung tâm).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/11/2025, nhận được tin báo của người dân, Lê Trường V có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của V, nên Công an xã mời V làm việc, V khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 21/11/2025, V liên hệ 01 người thanh niên lạ mặt (không rõ họ tên, địa chỉ) ở xã B, tỉnh Đồng Tháp mua 200.000 đồng ma túy đá, mang về nhà và sử dụng một mình. Bên cạnh đó, ngày 08/8/2024, Lê Trường V bị Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh An Giang ra Quyết định số 453, cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng 12 tháng, chấp hành xong ngày 08/8/2025. Ngày 13/8/2025, Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh An Giang ra Quyết định số 454, quản lý sau cai nghiện ma túy, thời gian 12 tháng từ ngày 13/8/2025 đến 13/8/2026 đối với V, tại ấp T, xã C.
Quá trình điều tra, không thu giữ vật chứng; không đề cập.
Tại Kết luận giám định số 1384/KL-KTHS ngày 04/12/2025 của Phòng K
- Công an tỉnh A, kết luận: Mẫu nước tiểu của Lê Trường V có chứa thành phần ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 94/CT-VKSKV11 ngày 30/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang truy tố bị cáo Lê Trường V về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Tại phiên tòa,
- Bị cáo V thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, thừa nhận là đối tượng nghiện ma túy được Ủy ban nhân dân xã C ra Quyết định quản lý sau cai thì lại tiếp tục sử dụng ma túy đá (loại methamphetamine) thì bị lực lượng Công an phát hiện. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin xem xét giảm một phần hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – An Giang thực hành công tố tại phiên tòa, xét hỏi, tranh luận, xem xét tính chất vụ án, mức độ, hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo tác động đến xã hội, phân tích các tình tiết định tội, định khung hình phạt, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu Luận tội giữ nguyên quyết định Cáo trạng truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025. Xử phạt bị cáo Lê Trường V từ 02 năm 3 tháng đến 02 năm 9 tháng tù về tội“Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung, hoàn cảnh khó khăn, không nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: không đề cập.
Sau khi nghe quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo không tranh luận, xác định Cáo trạng truy tố đúng tội, không oan, đồng ý với nội dung luận tội của Kiểm sát viên, nói lời sau cùng bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, không khiếu nại các chứng cứ được thu thập. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người làm chứng Trần Thị M vắng mặt không rõ lý do. Đối với người này được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng theo đúng quy định; đã được Cơ quan điều tra thu thập lời khai chi tiết, toàn diện, đánh giá sự vắng mặt của những người nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, hoàn toàn phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; những người làm chứng về toàn bộ diễn biến về thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội, các tình tiết khác của vụ án; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, sơ đồ hiện trường được lập vào ngày 11/3/2026; phù hợp tang vật thu giữ. Ngoài ra, còn phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ.
Qua đó, có đủ căn cứ xác định, do bản thân nghiện ma túy, khoảng 17 giờ ngày 21/11/2025, bị cáo liên hệ người thanh niên lạ ở xã B, tỉnh Đồng Tháp mua 200.000 đồng ma túy, mang về nhà sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, lập biên bản, đưa đi xét nghiệm kết quả dương tính với ma túy loại Methamphetamine. Bên cạnh đó, nhân thân bị cáo thuộc đối tượng quản lý sau cai theo Quyết định số 454, ngày 13/8/2025, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh An Giang với thời gian 12 tháng từ ngày 13/8/2025 đến 13/8/2026, tại ấp T, xã C.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xác định: hành vi của bị cáo Lê Trường V đủ yếu tố cấu thành tội“Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, có mức hình phạt tù từ 02 năm đến 03 năm.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – An Giang truy tố bị cáo Lê Trường V về tội danh, Điều luật viện dẫn là đúng người, đúng tội, có căn cứ.
Bị cáo Lê Trường V là người trưởng thành, nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn bất chấp, cố ý thực hiện với ý thức mong muốn hậu quả xảy ra. Bản thân nghiện, bị cáo tìm mua ma túy về sử dụng, loại ma túy đá (Methamphetamine). Bị cáo hoàn toàn nhận thức được tác hại khi sử dụng ma túy không những ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, làm kiệt quệ khả năng tài chính của người sử dụng mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội, tội phạm khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế, ảnh hưởng đến sự quản lý về chất ma túy của Nhà nước, vì đây là chất cấm; mọi hành vi sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật đều được xử lý kịp thời, nghiêm minh. Do đó, việc áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ từ hành vi mà bị cáo đã gây ra, áp dụng hình phạt nghiêm nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Đánh giá hành vi khác có liên quan:
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo không thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc là căn cứ giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Do hoàn cảnh khó khăn, không có công việc cụ thể, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Bộ luật Hình sự;
Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra, không thu giữ vật chứng nên không đề cập.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định.
Quan điểm luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025.
[1] Về tội danh và hình phạt áp dụng:
Tuyên bố bị cáo Lê Trường V phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Trường V 02 năm 6 tháng tù (hai năm sáu tháng). Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 01/4/2026.
[2] Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Bị cáo Lê Trường V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo, có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang - Sở Tư pháp tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 11 – An Giang; - Phân trại tạm giam Chợ Mới cơ sở 01 – trại tạm giam số 01 – Công an tỉnh An Giang; - CQTHAHS - Công an tỉnh An Giang; - Công an xã Long Điền; - Phòng Thi hành án khu vực 11 – An Giang; - BP Thi hành án - Tòa án; - Bị cáo; Người liên quan; - Lưu: HSVA; Văn phòng TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Huy Phong |