vanban.org

Bản án 67/2025/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 08/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo MNV phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Về hình phạt bổ sung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Ngọc Viển tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo MNV phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2025/HS-ST
Ngày: 08-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn H

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lê Xuân Th

2/ Ông Nguyễn Văn H.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Th - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh QN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị L - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 08 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh QN, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 95/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

MNV, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1987 tại tỉnh Đ Th; Nơi thường trú và chổ ở hiện nay: thôn 7, xã Đăk La, huyện ĐH, tỉnh KT (nay là: thôn 7, xã ĐH, tỉnh QN); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Số định danh cá nhân: 087087001713; Cấp ngày: 18/10/2017 (cấp lại ngày 11/12/2023); Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an; Con ông Mai Tiến D, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1960; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Trúc V, sinh năm 1989; bị cáo có 02 (hai) người con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2018, là học sinh đang ở với mẹ; Gia đình bị cáo có 04 (bốn) chị em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình, người chị lớn sinh năm 1979.

Tiền án, tiền sự: 04 tiền án (Đã xoá án tích).

Nhân thân:

- Bản án số 03/2008/HSST ngày 08/01/2008 của Toà án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xử phạt MNV 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã xoá án tích.

- Bản án số 12/2011/HSST ngày 19/9/2011 của Toà án nhân dân huyện Đăk Glei, tỉnh KT xử phạt MNV 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” thời gian thử thách 45 tháng 01 ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Bản án số 45/2011/HSPT ngày 06/12/2011 của Toà án nhân dân tỉnh KT xét xử phúc thẩm xử phạt MNV 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” thời gian thử thách 42 tháng, kể từ ngày tuyên án. Đã xoá án tích.

- Bản án số 41/2017/HSST ngày 15/12/2017 của Toà án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh KT xử phạt MNV 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày chấp hành xong hình phạt tù: Ngày 19/01/2019.

- Bản án số 14/2020/HSST ngày 22/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh KT xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã xoá án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2025 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh KT (nay là Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh QN) (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Trần Kim Th, sinh ngày 26 tháng 12 năm 1987; Địa chỉ: thôn Phương Quý 1, xã Vinh Quang, thành phố KT, tỉnh KT (nay là thôn Phương Quý 1, xã Ngọk Bay, tỉnh QN) (vắng mặt);

+ Chị Hà Thị Mỹ H sinh ngày 01 tháng 01 năm 1989; Địa chỉ: thôn KonHring, xã Đăk Blà, thành phố KT, tỉnh KT (nay là : thôn KonHring, xã Đăk Rơ Wa, tỉnh QN) (có mặt).

- Người chứng kiến:

Anh R, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1987; Địa chỉ: thôn Kon Lor, xã Đăk Rơ Wa, thành phố KT, tỉnh KT (nay là: thôn Kon Lor, xã Đăk Rơ Wa, tỉnh QN) (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 02/4/2025, MNV sinh năm 1987, trú tại: Thôn 7, xã Đăk La, huyện ĐH, tỉnh KT (nay là: thôn 7, xã ĐH, tỉnh QN) đi xe buýt từ nhà thuộc thôn 7, xã Đăk La, huyện ĐH, tỉnh KT (nay là: thôn 7, xã ĐH, tỉnh QN) xuống thành phố KT, tỉnh KT (nay là phường KT, tỉnh QN) chơi. Khi đến khu vực gần Nghĩa trang nhân dân thành phố KT, tỉnh KT V xuống xe thì gặp Minh (là bạn quen biết ngoài xã hội, không rõ nhân thân, lai lịch). V biết Minh bán ma túy nên hỏi mua ma tuý loại Heroin với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). V trả tiền mặt cho M, còn M đưa V 01 (một) bì ni lông trong suốt, có viền màu đỏ, bên trong chứa ma túy rồi bỏ đi. Mua được ma túy, V đi bộ vào trong bụi cây ven đường sử dụng một mình, số còn lại V cất giấu vào trong túi quần bên phải rồi nhờ xe người đi đường xuống thành phố KT uống cà phê với bạn. Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 03/4/2025, Trần Kim TH, sinh năm 1987, trú tại thôn Phương Quý 1, xã Vinh Quang, thành phố KT, tỉnh KT (nay là xã Ngọk Bay, tỉnh QN) rủ V đi bắt trộm chó thì V đồng ý. Trần Kim TH điều khiển xe mô tô, biển số 82B1-502.19 chở theo V đến khu vực xã Chư Hreng, thành phố KT, tỉnh KT (nay là xã Đăk Rơ Wa, tỉnh QN) thì cả hai bị lực lượng Cảnh sát Cơ động yêu cầu dừng xe kiểm tra. TH sợ bị phát hiện đang đi bắt trộm chó nên điều khiển xe chạy tiếp, lúc này V có cầm theo 01 (một) bình xịt hơi cay mục đích để đi bắt trộm chó nên xịt hơi cay về phía sau nhưng không trúng ai. Đi được một đoạn đến khu vực gần xã Đăk Rơ Wa, TH bỏ lại xe mô tô bên đường và cả hai tiếp tục chạy bộ thì bị lực lượng chức năng giữ lại kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, lực lượng chức năng thu giữ tại vị trí dưới đất, gần chân MNV 01 (một) bì ni lông trong suốt, có viền màu đỏ, bên trong có chứa chất bột màu trắng đục (nghi là ma tuý). V khai nhận bì ni lông trên là ma tuý đã mua của Minh, sợ bị phát hiện nên V đã vứt xuống đường. Cơ quan Cảnh sát điều tra

- Công an tỉnh KT (nay là: Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh QN) đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý đối với MNV và thu giữ tang vật.

Quá trình điều tra MNV và đối tượng liên quan khai nhận như sau:

Khoảng 16 giờ, ngày 02/4/2025 MNV đi xe buýt từ nhà đến thành phố KT, tỉnh KT (nay là phường KT, tỉnh QN) chơi. Khi đến khu vực gần Nghĩa trang nhân dân thành phố KT, tỉnh KT V xuống xe thì gặp Minh (không rõ nhân thân, lai lịch) nên đã mua ma túy của Minh với giá 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng). Mục đích V mua ma tuý là để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy, V lấy một ít sử dụng một mình, số còn lại V cất giấu trong túi quần bên phải. Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 03/4/2025, V bị lực lượng chức năng kiểm tra hành chính, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Kết luận giám định là ma tuý loại Heroin (Heroin) có khối lượng 0,384 gam.

Ngày 04/4/2025, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh KT (nay là: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh QN) ra Quyết định trưng cầu giám định số 349/QĐ-CSMT, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh KT (nay là Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngĩa) giám định:

- Chất bột màu trắng đục đựng trong 01 (một) bì ni lông trong suốt, có viền màu đỏ. Được bỏ vào phong bì màu trắng, mặt sau được dán kín, tại các mép dán có chữ ký ghi họ tên của MNV và những người tham gia niêm phong cùng dấu tròn màu đỏ của Công an xã Đăk Rơ Wa, tỉnh KT, được ký hiệu “ma túy”.

Tại bản Kết luận giám định số: 138/KL-KTHS, ngày 08/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh KT (nay là Công an tỉnh QN) kết luận: Chất bột màu trắng đục gửi giám định là ma túy; loại: Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng là: 0,384 gam.

Tại bản cáo trạng số: 67/CT-VKSKT-P1 ngày 17/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN đã truy tố bị cáo MNV về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, đã phân tích về hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, qua đó giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo MNV phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo MNV từ 20 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp, đề nghị: Xử lý theo quy định của pháp luật.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, không tự bào chữa cho hành vi của mình và không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh KT (nay là Công an tỉnh QN), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác, cũng như vật chứng đã được thu giữ, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Căn cứ vào kết luận giám định số 138/KL-KTHS ngày 08/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh KT (nay là Công an tỉnh QN). Có đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 02/4/2025, bị cáo MNV có hành vi mua ma túy, loại Heroine của một người đàn ông tên Minh (chưa xác định được nhân thân lai lịch) với giá 500.000 (Năm trăm nghìn đồng) để cất giấu, tàng trữ sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy, bị cáo MNV đã sử dụng một ít, số còn lại cất giấu trong túi quần bên phải, đến ngày 03/4/2025 bị cáo MNV cùng Trần Kim TH điều khiển xe mô tô đi trộm chó (tuy nhiên thời điểm bắt quả tang chưa trộm được gì) thì bị lực lượng Công an tỉnh KT (nay là Công an tỉnh QN) phát hiện bắt quả tang, thu giữ 0,384 gam (không phẩy ba tám bốn) gam ma túy, loại Heroine (số ma túy tại thời điểm Công an tỉnh KT phát hiện bắt giữ) (nay là Công an tỉnh QN) tại thôn Kon Kơ Tu, xã Đăk Rơ Wa, thành phố KT, tỉnh KT (nay là xã Đăk Rơ Wa, tỉnh QN). Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo MNV đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng số 67/CT-VKSQNG-P1 ngày 17/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN truy tố.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo MNV là nghiêm trọng. Mặc dù biết rõ tác hại của ma túy và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân gây phát sinh nhiều hành vi phạm tội, tệ nạn xã hội khác. Hiện nay tội phạm ma túy đang diễn biến phức tạp, gia tăng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về nhân thân: Bị cáo MNV có nhân thân xấu, có 04 tiền án mặc dù đã được xóa án tích, nhưng bị cáo không ăn năn hối cải, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo MNV đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bà nội là Huỳnh Thị Sáu được tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng, cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị xử phạt tiền, tịch thu tài sản. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có tài sản gì, nghề nghiệp không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với khối lượng chất ma túy sau khi giám định theo kết luận giám định số 138/KL-KTHS ngày 08/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh KT (nay là Công an tỉnh QN) gồm 0,370 (Không phẩy ba bảy không) gam ma túy loại Heroine (số ma túy còn lại sau giám định) được đựng trong 01 (một) bì ni lông; 01 (một) bì ni lông trong suốt có viền màu đỏ; 01 (một) phong bì màu trắng đụng mẫu vật gửi giám định. Tất cả được niêm phong trong 01 (một) phong bì mặt trước có nội dung "CÔNG AN TỈNH KT PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 138/KL-KTHS"; mặt sau có các hình dấu tròn có nội dung "*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ* CÔNG AN TỈNH KT" và có các chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán: (01 (một) bì ni lông trong suốt, có viền màu đỏ; 01 (một) bơm kim tiêm; 01 (một) chai nhựa, bên trong có chứa chất lỏng; 01 (một) con dao có cán màu vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng; 01 (một) bình xịt hơi cay; 01 (một) gói ớt bột; 01 (một) túi vải màu đen, được cuốn băng keo, bên trong có bình ác quy độ chế, được gắn với một dây lưng màu xanh và một thanh kim loại gắn băng keo màu đen (Một đầu có gắn kim loại nhọn). Xét thấy, đây là những dụng cụ và chất ma túy cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động, dạng phím bấm, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong của bị cáo MNV. Được niêm phong trong phong bì màu trắng, mặt sau được dán kín, tại các mép dán có chữ ký ghi họ tên MNV và những người tham gia niêm phong và các hình dấu tròn của Công an xã Đăk Rơ Wa, tỉnh KT. Được ký hiệu “Điện thoại". Xét thấy đây là phương tiện để bị cáo liên lạc trong cuộc sống hàng ngày, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo MNV không có nhu cầu muốn nhận tại tài sản, nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại SIRIUS màu xanh, số máy 3S31028057, số khung RLCS3S3106Y028057, giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 034250, biển số 82B1-502.19 đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong. Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện chị Hà Thị Mỹ Hạnh là người đã mua lại chiếc xe tại tiệm xe của anh Bùi Văn Hồng, chị Hạnh không biết TH mượn xe để đi trộm cắp chó nên cần trả lại xe mô tô biển kiểm soát 82B1-502.19 cho chị Hạnh là đúng quy định.

Về các tình tiết khác:

Đối với Trần Kim TH điều khiển xe mô tô chở MNV nhưng không biết trong người V có ma túy, không sử dụng ma túy cùng với V nên không có căn cứ để xử lý. Trần Kim TH có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” vào ngày 31/3/2025 vi phạm quy định tại khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Công an tỉnh KT (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với TH số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm ngàn đồng).

Đối với người đàn ông tên M (không rõ nhân thân, lai lịch) đã bán ma túy cho MNV và người đàn ông tên L(không rõ nhân than, lai lịch) đã bán ma túy cho TH, hiện nay chưa xác định được nhân thân lai lịch. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh KT (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh QN) sẽ tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật;

Đối với chị Hà Thị Mỹ H, sinh năm 1989, trú tại thôn KonHring, xã Đăk Blà, thành phố KT, tỉnh KT đã cho Trần Kim TH mượn xe mô tô, biển số: 82B1-502.19. Xe này chị Hạnh mua tại tiệm xe máy của anh Bùi Văn Hồng, trú tại phường Quang Trung, thành phố KT (chưa sang tên). Chị Hạnh không biết TH lấy xe chở V, không biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của V nên không có căn cứ xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo MNV phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo MNV 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 03/4/2025.

3. Về hình phạt bổ sung:

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo MNV.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

4.1. Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng: 0,370 (Không phẩy ba bảy không) gam ma túy loại Heroine (số ma túy còn lại sau giám định) được đựng trong 01 (một) bì ni lông; 01 (một) bì ni lông trong suốt có viền màu đỏ; 01 (một) phong bì màu trắng đụng mẫu vật gửi giám định. Tất cả được niêm phong trong 01 (một) phong bì mặt trước có nội dung "CÔNG AN TỈNH KT PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 138/KL-KTHS"; mặt sau có các hình dấu tròn có nội dung "*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ* CÔNG AN TỈNH KT" và có các chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán: (01 (một) bì ni lông trong suốt, có viền màu đỏ; 01 (một) bơm kim tiêm; 01 (một) chai nhựa, bên trong có chứa chất lỏng; 01 (một) con dao có cán màu vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng; 01 (một) bình xịt hơi cay; 01 (một) gói ớt bột; 01 (một) túi vải màu đen, được cuốn băng keo, bên trong có bình ác quy độ chế, được gắn với một dây lưng màu xanh và một thanh kim loại gắn băng keo màu đen (Một đầu có gắn kim loại nhọn).

4.2. Tịch thu sung công quỹ nhà nước các vật chứng sau:

01 (một) điện thoại di động, dạng phím bấm, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, được niêm phong trong phong bì màu trắng, mặt sau được dán kín, tại các mép dán có chữ ký ghi họ tên của MNV và những người tham gia niêm phong và các hình dấu tròn của Công an xã Đăk Rơ Wa, tỉnh KT. Được ký hiệu “điện thoại” .

4.3. Trả lại các vật chứng sau:

Trả lại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hà Thị Mỹ Hạnh 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại SIRIUS màu xanh, số máy 3S31028057, số khung RLCS3S3106Y028057, giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 034250, biển số 82B1-502.19 đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong.

(Tất cả các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/8/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh QN và Thi hành án dân sự tỉnh QN).

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo MNV phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (08/8/2025), bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án để xin xét xử theo trình tự phúc thẩm./. Nơi nhận

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Vụ Giám đốc kiểm tra I-TANDTC;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Tòa phúc thẩm - TAND tối cao tại Đà Nẵng;

- Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng;

- VKSND tỉnh QN;

- Phòng THAHS, Phòng Hồ sơ NV Công an tỉnh QN;

- CQ CSĐT Công an tỉnh QN;

- THADS tỉnh QN;

Nguyễn H

- Trại Tạm giam số 2, CA tỉnh QN;

- UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú (để t/b);

- Bị cáo; Người có QLNVLQ, người chứng kiến;

- Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Lê Xuân Thạnh

Nguyễn Văn Hả

Nguyễn Hành

Cỡ chữ