- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đình Q - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2025/HS-ST Ngày 14-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Diệu Thúy.
Các H i thẩm nhân dân: Bà Tô Thị Liễu và bà Đỗ Thị Thu Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên.
- i di n i n ki m sát nh n d n khu vực 7 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025, đối với:
* Bị cáo VŨ ĐÌNH Q, sinh ngày 11/01/19xx; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: lớp 9/12; Con ông Vũ Văn C, sinh năm 19xx và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 19xx; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/7/2025 đến ngày 06/8/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Hưng Yên (có mặt).
* Người chứng kiến:
- Anh Đặng Văn T, sinh năm 19xx; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).
- Anh Vũ Văn D, sinh năm 20xx; Nơi cư trú: Thôn P, xã N, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u c trong h s và di n i n tại phiên t a, nội dung v án đ c t m t t nh sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 30/7/2025, tại trục đường liên thôn thuộc địa phận thôn Đ, xã N, tỉnh Hưng Yên. Công an xã Đ phối hợp với Công an xã N tỉnh Hưng Yên, bắt quả tang Vũ Đình Q có hành vì tàng trữ trái phép tại túi quần bên trái phía trước đang mặc 01 túi ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2006 gam.
Vũ Đình Q khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 17 giờ 00 phút ngày 30/7/2025, Vũ Đình Q đi bộ từ nhà đến khu vực chợ Rọc, xã An Dục đi xe ôm của người không quen biết đến khu vực Cầu phao sông Hóa thuộc xã Đông Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, Q gặp và mua được 01 túi ma túy loại Methamphetamine của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên, tuổi địa chỉ với giá 300.000 đồng. Q cất giấu túi ma tuý vào trong túi quần bên trái, phía trước đang mặc rồi đi về; khi Q đang đi bộ đến trục đường liên thôn thuộc địa phận thôn Đồng Hòa, xã Nam Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên thì bị tổ công tác của Công an xã Đông Thụy Anh cùng Công an xã Nam Thụy Anh tỉnh Hưng Yên phối hợp làm nhiệm vụ tuần tra nghi vấn Q có liên quan đến ma túy nên yêu cầu Q dừng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Đặng Văn Tuấn và anh Vũ Văn Diêm, Q tự giác lấy từ trong túi quần bên trái phía trước đang mặc giao nộp 01 túi nilon trong suốt, mép túi có gờ cài màu xanh, bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt cho tổ công tác và khai nhận đó là 01 túi ma túy đá của Q mua về để sử dụng. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng, đưa Q và mời người chứng kiến về trụ sở Công an xã N tỉnh Hưng Yên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Q, không thu giữ gì.
Bản kết luận giám định số 684/KL- KTHS ngày 04/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Vật chứng trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2006 gam (Không phấy m t nghìn năm trăm chín mươi sáu gam). Methamphetamine STT: 247 Danh mục IC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Bản cáo trạng số 14/CT-VKSKV7 ngày 24/10/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên đã truy tố bị cáo Vũ Đình Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đình Q không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Q định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Đình Q từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 31/7/2025. Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo Vũ Đình Q được hoàn trả lại sau khi giám định cùng bao gói.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận tội, hành vi phạm tội của bị cáo là sai trái, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung v án, căn cứ vào các tài li u trong h s v án đã đ c tranh t ng tại phiên t a, Hội đ ng xét xử nhận định nh sau:
Về Q định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Q định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và Q định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Đình Q: Tại phiên toà bị cáo khai nhận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 30/7/2025, bị cáo đã đến khu vực chợ Rọc, xã An Dục mua 01 túi ma túy loại Methamphetamine với giá 300.000 đồng về để sử dụng. Sau khi mua được ma tuý bị cáo cất giấu vào túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi đi về. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi bị cáo đang đi bộ đến trục đường liên thôn thuộc thôn Đồng Hoà, xã Nam Thuỵ Anh, tỉnh Hưng Yên thì bị tổ công tác Công an xã Đông Thuỵ Anh cùng Công an xã Nam Thuỵ Anh, tỉnh Hưng Yên yêu cầu bị cáo dừng lại để kiểm tra. Bị cáo đã tự giác giao nộp số ma tuý đá cho tổ công tác, tổ công tác đã niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo.
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người chứng kiến, ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 19 giờ 50 phút ngày 30/7/2025; Bản kết luận giám định số 684/KL-KTHS ngày 04/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Vũ Đình Q tàng trữ trái phép 01 túi ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2006 gam với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo được thực hiện vào ngày 30/7/2025, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, hành vi này đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên đã truy tố là đúng pháp luật.
Tội danh và hình phạt được quy định như sau:
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thu c m t trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
a)…
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
….
5. Người phạm t i còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu m t phần hoặc toàn b tài sản.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, làm mất trật tự trị an xã hội, làm suy yếu sức khỏe con người và là yếu tố phát sinh những loại tội phạm khác. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng cũng như răn đe, đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai phạm trở thành công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng, bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản, vì vậy, không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra không xác định được người bán ma túy cho bị cáo là ai nên không có căn cứ để xác minh, xử lý là đúng pháp luật.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Đình Q 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 31/7/2025. Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử l vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 0,1596 gam ma tuý loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói thu giữ của Vũ Đình Q đựng trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 648/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/10/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Hưng Yên.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vũ Đình Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Vũ Đình Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 14/11/2025.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND - VKSND tỉnh Hưng Yên; - VKSND khu vực 7 - Hưng Yên; - THADS tỉnh Hưng Yên; - Phòng THADSKV7, tỉnh Hưng Yên; - CQCSĐT Công an tỉnh Hưng Yên; - Phòng CSTHAHS và HTTP Công an tỉnh Hưng Yên; - Trại tạm giam số 2 CA tỉnh Hưng Yên; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã k Phạm Thị Di u Thúy |