vanban.org

Bản án 67/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Ngọc Đ được ly hôn bà Phan Thị Ngọc T.

Về con chung: Ông Lê Ngọc Đ và bà Phan Thị Ngọc T có 03 (ba) con chung Lê Hồng N, sinh năm 2005 đã thành niên và có khả năng lao động; Lê Thị Mỹ D, sinh ngày 22/10/2007; Lê Ngọc T1, sinh ngày 22/9/2014. Ông Đ được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Thị Mỹ D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Ngọc Đ được ly hôn bà Phan Thị Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2025/HNGĐ-ST
Ngày 29 tháng 4 năm 2025
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hùng Bích - Bà Lê Thị Thanh Vân

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Tạ Kim Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 666/2024/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 3 năm 2025; quyết định hoãn phiên tòa số: 139/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 02 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Ngọc Đ, sinh năm 1988. Nơi cư trú: ấp B, xã M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Phan Thị Ngọc T, sinh năm 1982. Nơi cư trú: ấp B, xã M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn cùng các lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Ngọc Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Phan Thị Ngọc T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên vào năm 2009. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được 11 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đến cuối năm 2020 vợ chồng sống ly thân. Do mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, hôn nhân không hạnh phúc nên ông yêu cầu ly hôn bà T.

Về con chung: Ông và bà T có 03 (ba) con chung Lê Hồng N, sinh năm 2005 đã thành niên và có khả năng lao động; Lê Thị Mỹ D, sinh ngày 22/10/2007 hiện do ông Đ chăm sóc, nuôi dưỡng; Lê Ngọc T1, sinh ngày 22/9/2014 hiện do bà T chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Lê Thị Mỹ D, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Lê Ngọc T1 có nguyện vọng sống với bà T thì ông đồng ý.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết bà Phan Thị Ngọc T mặc dù được niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đ. Phiên tòa được mở lần thứ hai, bà T vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của đương sự và đề xuất việc giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý giải quyết đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các văn bản tố tụng được tống đạt, niêm yết đúng quy định tại các Điều 171, 173, 175, 177 và 179 BLTTDS 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của BLTTDS về xét xử vụ án. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc Đ được ly hôn bà Phan Thị Ngọc T.

- Về con chung: Con chung Lê Hồng N, sinh năm 2005 đã thành niên và có khả năng lao động, nên không xem xét giải quyết. Giao con chung Lê Thị Mỹ D, sinh ngày 22/10/2007 cho ông Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao con chung Lê Ngọc T1, sinh ngày 22/9/2014 cho bà T chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Đ và bà T không yêu cầu cấp dưỡng, nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về tố tụng:

. Ông Đ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà T. Bà T cư ngụ tại xã M, thành phố Long Xuyên nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Phiên tòa hôm nay mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng bà T vắng mặt không có lý do, ông Đ không yêu cầu hoãn phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn bà Phan Thị Ngọc T.

. Về nội dung:

. Về hôn nhân: Ông Đ và bà T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nguyên nhân yêu cầu ly hôn theo ông Đ trình bày vợ chồng sống hạnh phúc được 11 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng đến cuối năm 2020 vợ chồng sống ly thân. Do mâu thuẫn trầm trọng kéo dài không thể hàn gắn, hôn nhân không hạnh phúc nên ông Đ yêu cầu ly hôn bà T.

Quá trình giải quyết vụ án bà T vắng mặt. Theo phiếu xác minh về tình trạng cư trú của người tham gia tố tụng tại Công an xã Mỹ Khánh, thành phố Long Xuyên ngày 27/12/2024 thể hiện: Phan Thị Ngọc T, sinh năm 1982 có đăng ký thường trú tại số C ấp B, xã M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Do bà T vắng mặt, Tòa án thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bà T biết nhưng bà T vẫn không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do ông Đ cung cấp; cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đ là bà T đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại khoản 5 Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét thấy, trong gia đình vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, tôn trọng và cùng nhau chia sẻ vui buồn trong cuộc sống, đây là cơ sở vững chắc để bồi đắp, duy trì tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên ông Đ trình bày thời gian sống ly thân cả hai không có biện pháp hòa giải để níu kéo, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Phiên tòa được mở lần thứ hai bà T tiếp tục vắng mặt là không có thiện chí đoàn tụ. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc thật sự cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông ông Lê Ngọc Đ được ly hôn bà Phan Thị Ngọc T.

. Về con chung: Ông Đ và bà T có 03 (ba) con chung Lê Hồng N, sinh năm 2005 đã thành niên và có khả năng lao động; Lê Thị Mỹ D, sinh ngày 22/10/2007 hiện do ông Đ nuôi dưỡng; Lê Ngọc T1, sinh ngày 22/9/2014 do bà T nuôi dưỡng. Ông Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Lê Thị Mỹ D, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Lê Ngọc T1 có nguyện vọng sống cùng với bà T thì ông đồng ý.

Xét điều kiện của ông Đ, bà T trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Để đảm bảo ổn định cuộc sống cho các con sau ly hôn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Đ được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Lê Thị Mỹ D theo nguyện vọng của con; ổn định cho Lê Ngọc T1 được tiếp tục sống với bà T.

Về cấp dưỡng nuôi con, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là quyền lợi của con chưa thành niên. Ông Đ trình bày có thu nhập đủ khả năng lo cho con không yêu cầu bà T cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Bà T không có ý kiến về việc nuôi dưỡng, cấp dưỡng con chung.

Ông Đ, bà T phải tạo điều kiện cho nhau được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Ông Đ, bà T nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, vì lợi ích của con ông Đ, bà T được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con chung.

. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Đ không yêu cầu giải quyết. Bà T không có ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết.

. Về án phí: Ông Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Ngọc Đ được ly hôn bà Phan Thị Ngọc T.

Về con chung: Ông Lê Ngọc Đ và bà Phan Thị Ngọc T có 03 (ba) con chung Lê Hồng N, sinh năm 2005 đã thành niên và có khả năng lao động; Lê Thị Mỹ D, sinh ngày 22/10/2007; Lê Ngọc T1, sinh ngày 22/9/2014.

Ông Đ được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Thị Mỹ D.

Bà T được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Ngọc T1.

Ông Đ và bà T không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do ông Đ, bà T không yêu cầu.

Ông Đ, bà T phải tạo điều kiện cho nhau thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Ông Đ, bà T trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, vì lợi ích của con ông Đ, bà T được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chưa xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông Lê Ngọc Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001884, ngày 19/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Ông Đ đã nộp đủ tiền án phí.

Quyền kháng cáo:

Ông Đ có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bà T không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ