vanban.org

Bản án 67/2025/DSPT — Tranh chấp đất đai

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 24/01/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/01/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Phần thứ nhất được chia cho anh Nguyễn Hà T1 và chị Nguyễn Thị L được đồng sở hữu, có diện tích 55,0m2 được giới hạn bởi các điểm 1-2-23-19-20-21-22-1; Anh T2 và chị L được đồng sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc phần diện tích đất được chia này. Phần … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "tranh chấp Thừa kế tài sản và công nhận quyền sở hữu đối với công trình gắn liền với đất"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2025/DSPT
Ngày: 24/01/2025
V/v: Tranh chấp Thừa kế tài
sản và công nhận quyền sở
hữu đối với công trình xây
dựng và tài sản gắn liền trên
đất.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Như Lâm

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Viết Văn

Ông Lê Thanh Bình

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Hoàng Vĩnh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 24/01/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 224/2024/TLPT - DS ngày 19/6/2024 về việc “Tranh chấp Thừa kế tài sản và công nhận quyền sở hữu đối với công trình xây dựng và tài sản gắn liền trên đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 02/4/2024 của Toà án nhân dân huyện U, thành phố Hà Nội bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 338/2024/QĐXX-PT ngày 12/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 24/2025/QĐPT-HPT ngày 16/01/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thùy H; sinh năm 1970; địa chỉ: số B, khu H, tòa nhà V, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội: vắng mặt tại phiên tòa.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Tuấn Q, sinh năm 1993 và ông Phạm Trường G, sinh năm 1992; ông Q, ông G có mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ liên hệ: Tầng B Tòa nhà C, số A đường T, quận C, Thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Văn T - Công ty L4 và Cộng sự - Đoàn Luật sư thành phố H; Luật sư T có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn:

2. 1. Anh Nguyễn Hà T1; sinh năm 1989; có mặt tại phiên tòa.

2. 2. Chị Nguyễn Thị L; sinh năm 1987; vắng mặt tại phiên tòa.

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội.

3. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Chi cục Thủy lợi và phòng chống thiên tai H11.

Trụ sở: số A đường T, phường N, quận H, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Anh T2 - Hạt trưởng Hạt quản lý Đ - huyện

M; có đơn xin xét xử vắng mặt.

3.2. Anh Nguyễn Quốc T3; sinh năm 1981; có mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: C ngõ A T, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội.

3. 3. Chị Nguyễn Thị Thu T4; sinh năm 1983; có mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: phòng A tòa C KĐT E, phường Đ, quận B, Thành phố Hà Nội. 30

3. 4. Bà Nguyễn Thị H1; sinh năm 1958; có mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Xóm F, thôn Đ, xã H, huyện U, thành phố Hà Nội.

3. 5. Ông Nguyễn Hà P; sinh năm 1960; có mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: số nhà H, tổ C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Hà P:

*Luật sư Nguyễn Khắc B – Văn phòng L5 - Đoàn luật sư thành phố H.

Địa chỉ liên hệ : Số A - Phường N, quận C, Thành phố Hà Nội.

*Luật sư Lê Ngọc A – Công ty L6 - Đoàn luật sư thành phố H.

Địa chỉ liên hệ: Khu V, tầng 4, tòa nhà S, số C L, phường T, quận T, Thành phố

Hà Nội.

3.6. Ông Nguyễn Hà V; sinh năm 1963; vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: số nhà D, tổ F, phường M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.

3.7. Bà Nguyễn Thị Y; sinh năm 1966; vắng mặt tại phiên tòa,

Địa chỉ: xóm A, thôn Đ, xã H, huyện U, thành phố Hà Nội.

3.8. Ông Nguyễn Hà Q1; sinh năm 1968; có mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: số B, liền kề 14, ĐTM P, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Hà Q1: Luật sư Lê Ngọc

A – Công ty L6 - Đoàn luật sư thành phố H.

Địa chỉ liên hệ: Khu V, tầng 4, tòa nhà S, số C L, phường T, quận T, Thành phố

Hà Nội.

3.9. Ông Nguyễn Hà H2; sinh năm 1971; vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội.

3.10. Bà Nguyễn Thị H3; sinh năm 1975; vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Số E, ngõ E, phố Q, quận H, Thành phố Hà Nội.

3.11. Bà Nguyễn Thị Y1; sinh năm 1954; vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: số nhà A N, KTT Đ, phường Đ, quận N, Thành phố Hà Nội.

3.12. Chị Nguyễn Thị T5; sinh năm 1977; vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội.

3.13. Chị Đinh Thị Thùy D; sinh năm 1992; vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội.

3.14. Chị Nguyễn Thị M; sinh năm 1984; vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội.

3.15. Chị Lê Thị Mỹ Q2; sinh năm 1989; vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội.

3.16. Cháu Nguyễn Lê Khả H4, sinh năm 2018; vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội.

3.17. Cháu Nguyễn Hà Gia H5; sinh năm 2021; vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Lê Khả H4 và cháu Nguyễn Hà

Gia H5 là anh Nguyễn Hà T1 và chị Lê Thị Mỹ Q2 (bố mẹ đẻ); anh T1 có mặt tại phiên tòa, chị Q2 vắng mặt tại phiên tòa,

3.18. Cháu Nguyễn Phương L1; sinh năm 2021; vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật của cháu L1 là chị Nguyễn Thị L (mẹ đẻ): chị L

vắng mặt tại phiên tòa.

3.19. Ông Đinh Văn T6; sinh năm 1962; vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội.

3.20. Chị Đinh Thị Bách T7; sinh năm 1995; vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội.

3.21. Anh Nguyễn Hà Duy A1; sinh năm 1993; vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Hà Duy A1 là ông Lê Tuấn Q;

sinh năm 1993; ông Q có mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ liên hệ: tầng 21, tòa nhà C, số A đường T, quận C, thành phố Hà Nội.

3.22. Bà Trần Thu H6; sinh năm 1979; vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: B Quán S, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội.

3.23. Cháu Phương Việt A2; sinh năm 2017; vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội.

3.24. Cháu Phuơng Phúc A3; sinh năm 2021; vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội.

4. Người kháng cáo, kháng nghị:

4.1. Bà Nguyễn Thùy H là nguyên đơn; ông Nguyễn Hà P, bà Nguyễn Thị Thu

T4, bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Hà Q1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

4.2. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai ngày 27/10/2023 cùng các tài liệu

khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn – bà Nguyễn Thùy H trình bày:

Bố mẹ đẻ bà là cụ Nguyễn Hà L2 và Dương Thị T8. Cụ L2 chết năm 2013, cụ

T8 chết năm 2020. Bố mẹ bà chết đi không để lại di chúc.

Bố mẹ bà có 10 người con, gồm:

1. Ông Nguyễn Hà B1 - chết năm 2022. Ông B1 có địa chỉ ở: thôn Đ, xã H, huyện

U, thành phố Hà Nội. Ông B1 có vợ là Nguyễn Thị T9, chết trước ông B1 khoảng 5 năm. Ông B1 và bà T9 có 02 người con: Nguyễn Hà T1 - sinh năm 1986 và Nguyễn Thị L - sinh năm 1987. Anh T2 và chị L đều đang ở Hà Nội

2. Ông Nguyễn Hà Q1 - sinh năm 1968; Địa chỉ: liền kề 14, số B đô thị mới P,

quận H, thành phố Hà Nội

3. Ông Nguyễn Hà H2 - sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện U

4. Ông Nguyễn Hà M1 - chết trước cụ L2 và cụ T8, cụ thể năm nào không nhớ.

Có vợ là Nguyễn Thị Y1 - sinh năm 1957; Địa chỉ: khu tập thể Đ, số nhà A N, phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội; ông M1 và bà Y1 có 02 con: anh Nguyễn Hà T10 - sinh năm 1981 và Nguyễn Thị Thu T4 - sinh năm 1986

5. Ông Nguyễn Hà P - sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ C, T, thành phố Đ, tỉnh Điện

Biên.

6. Ông Nguyễn Hà V - sinh năm 1963; Địa chỉ: Tổ F, M, thành phố Đ, tỉnh Điện

Biên.

7. Tôi (Bà) - Nguyễn Thùy H - sinh năm 1970;

8. Bà Nguyễn Thị H1 - sinh năm 1958; Địa chỉ: Xóm F, Thôn Đ, xã H, huyện U.

9. Nguyễn Thị Y - sinh năm 1966; Địa chỉ: Xóm A, Thôn Đ, xã H, huyện U.

10. Bà Nguyễn Thị H3 - sinh năm 1975; Địa chỉ: số E, ngõ E Q, quận H, thành

phố Hà Nội.

Ông bà ngoại và ông bà nội của bà đều chết từ lâu, đều chết trước bố mẹ đẻ bà.

Bố mẹ đẻ bà không có bố mẹ nuôi, con nuôi, con đẻ, con ngoài dã thú nào khác.

Bố mẹ bà chết đi để lại di sản gồm có:

Tài sản 01: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa

đất số 499, tờ bản đồ số 26, diện tích 345m2, theo bản đồ địa chính và sổ mục kê năm 2013 (trước đây là thửa đất số 624, tờ bản đồ số 02 theo bản đồ địa chính và sổ mục kê năm 1985) tọa lạc tại thôn Đ, xã H, huyện U, thành phố Hà Nội. Thửa đất này hiện chưa được cấp giấy chứng nhận.

Tài sản 02: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa

đất số 501, tờ bản đồ số 05, diện tích 381,9m2, loại đất ở, tọa lạc tại thôn Đ, xã H, huyện U, thành phố Hà Nội, do UBND huyện U cấp cho ông Nguyễn Hà L2 ngày 24/10/2006, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: 00941/ƯH.

Hiện nay, trên thửa đất 501 có bà Nguyễn Thị Y xây 01 căn nhà và cùng cả gia

đình sinh sống trên đó, phần còn lại là đất trống. Chồng bà Y là Đinh Văn T6, sinh năm 1963, bà Y và ông T6 có 02 con là Đinh Thị D - sinh năm 1992 và Đinh Thị B2

- sinh năm 1997.

Thửa đất 499, có 03 ngôi nhà và 03 kiốt được xây dựng trên đó, trong đó: có 03

kiốt là do bố mẹ bà xây dựng khi còn sống, 03 kiốt này hiện đang do ông V, ông P và con ông M1 quản lý, sử dụng; 01 ngôi nhà 01 tầng gác xép do ông H2 đứng lên xây dựng nhưng nguồn tiền là do bà đưa cho ông H2 số tiền 400 triệu đồng để xây, hiện ông H2 đang quản lý, sử dụng; 02 ngôi nhà đều 02 tầng đổ mái trần bê tông đều do bà bỏ tiền ra xây dựng mà hiện nay 01 ngôi nhà do gia đình anh Nguyễn Hà T1 và gia đình chị Nguyễn Thị L quản lý, sử dụng, 01 ngôi nhà hiện ông Q1 đã tự ý cắt khóa vào và tự ý chuyển đồ đạc vào nhà của bà.

Khi bố mẹ bà còn sống, thời gian ốm đau cuối đời bản thân bà là người trực tiếp

nuôi dưỡng, chăm sóc bố đẻ bà; ông H2 là người trực tiếp chăm sóc mẹ bà khi ốm đau nhưng nguồn tiền phụng dưỡng là của bà.

Nay do anh em trong nhà bất hòa, và cũng để tránh những tranh chấp xảy ra sau

này nên bà làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế của bố mẹ bà để lại là 02 tài sản nêu trên theo quy định pháp luật, nguyện vọng của bà được chia bằng hiện vật và được nhận hiện vật trên đó có ngôi nhà 02 tầng khoảng 90m2 mà bà bỏ tiền ra xây dựng, hiện ông Q1 đã tự ý cắt khóa và chiếm giữ của bà. Vì ngôi nhà này có nhiều kỉ niệm gắn bó giữa bà với bố mẹ bà và các con bà.

Tại bản tự khai đề ngày 04/01/2024 nộp cho Tòa án có trong hồ sơ, bà H thay

đổi, bổ sung nội dung trình bày như sau: Trước đây, bà hiểu rằng B3, Mẹ bà chết đi không để lại di chúc, chỉ để lại biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 21/02/2002 có nội dung chia Thửa đất 499 cho 06 con trai và Biên bản chia đất ngày 02/11/2006 có nội dung chia Thửa đất 501 cho 04 con gái. Hiện nay các anh chị em đồng thừa kế đều thừa nhận 02 Biên bản trên là di chúc bố mẹ bà để lại nên bà cũng nhất trí thừa nhận 02 Biên bản đó là di chúc của bố mẹ bà. Ngoài ra, những văn bản khác liên quan và phát sinh sau thời điểm cụ L2, cụ T8 lập 02 Biên bản trên cũng cần phải được công nhận hiệu lực, tôn trọng sự thỏa thuận của các Bên. Vì vậy, bà có một số ý kiến tự khai bổ sung và yêu cầu như sau:

1. Đối với Thửa đất số 501

Tại thời điểm để lại di chúc, Thửa đất 501 khi đó chỉ là đất trống, được chia cho

04 con gái, có sơ đồ kẻ vẽ thể hiện theo hướng đầu ngõ X chạy xuôi xuống: Phần đất thứ nhất cho Nguyễn Thị H3, Phần đất thứ hai cho Nguyễn Thị Y, Phần đất thứ ba cho Nguyễn Thùy H, Phần đất thứ tư cho Nguyễn Thị H1. Mỗi người đều được phần diện tích bằng nhau.

Sau này, chỉ có bà Nguyễn Thị Y xây nhà tại Thửa đất 501 này để sinh sống, bà

Y xây nhà trên phần diện tích đất thứ nhất bố mẹ bà chia cho Nguyễn Thị H3, việc đó các anh chị em bà đều biết. Khi bà Y xây nhà bố mẹ bà cũng vẫn còn sống và đều không có ý kiến gì, cụ thể ngôi nhà bà Y xây trên diện tích đất bao nhiêu bà không biết. Phần còn lại vẫn là đất trống.

2. Đối với Thửa đất số 499

Thửa đất 499 được chia cho 06 con trai, lần lượt theo hướng từ V đi Hồ N, mặt

đường quốc lộ 21B là:

*Phần thứ nhất chia cho ông Nguyễn Hà B1, hiện nay do 2 con của anh B1 là

T1 và L quản lý sử dụng, phần đất này có ngôi nhà 2 tầng, tầng 1 do bà bỏ tiền ra xây dựng khoảng năm 2013, tầng 2 là do anh T1 và chị L bỏ tiền ra xây dựng khoảng năm 2021;

* Phần thứ hai chia cho ông Nguyễn Hà Q1, hiện nay trên đất có ngôi nhà 2

tầng do bà bỏ tiền ra xây dựng khoảng năm 2013;

* Phần thứ ba chia cho ông Nguyễn Hà H2, trên đất có ngôi nhà 02 tầng (tầng

1 và gác lửng ông H2 xây năm 2000, tầng 2 ông H2 mới xây sửa lại tháng 7 năm 2023 từ nguồn tiền bà đền bù cho ông H2 là 400.000.000 đồng, do ông H2 trong thời gian chăm sóc mẹ có công sửa chữa, cải tạo ngôi nhà của bà và ông P tại Phần đất thứ hai);

* Phần thứ tư chia cho ông Nguyễn Hà M1 là kiốt hiện do vợ con ông M1 quản

lý và cho người khác thuê;

* Phần thứ năm chia cho ông Nguyễn Hà P là kiốt hiện ông P đang quản lý và

cho người khác thuê;

* Phần thứ sáu chia cho ông Nguyễn Hà V là kiốt hiện do anh V quản lý và

cho người khác thuê. 03 kiốt hiện được chia cho ông M1, ông P và ông V do ai bỏ tiền ra xây dựng thì bà không biết, đều xây dựng khoảng năm 2008, khi đó bố mẹ bà vẫn còn sống và cho thuê, thu tiền thuê 03 kiốt này.

Sau khi bố mẹ bà chia đất cho các con theo 02 biên bản nêu trên, ngày

29/01/2013, dưới sự chủ trì của bà, sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Y cùng bố mẹ bà, ông B1 cùng ông P và ông Q1 đã thỏa thuận đổi vị trí đất được bố mẹ chia cho của ông P với ông Q1, cụ thể ông Q1 xuống Phần đất thứ năm của ông P, ông P lên Phần đất thứ hai của ông Q1, đồng thời ông P và ông B1 gộp hai Phần đất thứ nhất và thứ hai lại rồi chia đôi làm hai phần có diện tích bằng nhau (trước đó phần của ông B1 có diện tích và chiều dài mặt tiền rộng hơn). Phần thứ nhất giáp đất ngõ X là của ông B1, liền kề đó là Phần thứ hai của ông P. Liên quan đến giá trị phần diện tích đất của ông B1 cắt bớt đi gộp vào phần đất của ông P để được hai phần bằng nhau, bà là người đứng ra thanh toán cho ông B1 bằng cách trả toàn bộ tiền xây dựng tầng 1 ngôi nhà của ông B1 như hiện trạng hiện nay, tầng 2 là do cháu T1 và L tạo dựng thêm sau này. Việc này mọi người đều biết và thừa nhận. Ông B1 cùng ông P và ông Q1 đều ký tên vào Biên bản thỏa thuận này, đồng thời còn có xác nhận của bố mẹ bà với nội dung “biên bản thỏa thuận này là một phần không tách rời với bản di chúc phân chia tài sản của ông L2 bà T8”. Như vậy, biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 này cũng được coi là di chúc của bố mẹ bà để lại, là một phần không thể tách rời đính kèm theo hai Biên bản ngày 21/02/2002 và 02/11/2006 nêu trên. Sau đó, bà cũng là người duy nhất bỏ tiền ra xây dựng ngôi nhà 02 tầng trên phần đất của ông P cùng thời điểm bà bỏ tiền xây dựng, khởi công, động thổ với ngôi nhà 01 tầng của ông B1 trên Phần đất thứ nhất. Thực tế, tại thời điểm thỏa thuận này ông P đang ở Điện Biên nên đã được thông qua nội dung biên bản thỏa thuận qua điện thoại và nhất trí với nội dung này, sau đó ông P có lần về nhà thì đã trực tiếp ký nhận vào biên bản này, đặc biệt sau này ông P đã thừa nhận ý chí của ông trong biên bản thỏa thuận này thông qua việc lập vi bằng ngày 31/7/2023 mà bà nêu dưới đây.

Tiếp theo, căn cứ vào di chúc bố mẹ bà để lại, căn cứ biên bản thỏa thuận ngày

29/01/2013 nêu trên, ngày 20/02/2023 giữa bà và ông P đã có thỏa thuận gộp phần đất của ông P được chia ở Thửa 499 với phần đất tôi được chia ở Thửa 501 rồi chia cho hai cháu Nguyễn Hà P1 (con ông P) và Nguyễn Hà Duy A1 (con bà) đồng sở hữu, cụ thể: Phần đất của ông P (sau khi đổi với ông Q1 và gộp thêm 01 phần của ông B1) tại Thửa đất 499 được chia đều cho hai cháu đồng sở hữu; phần đất của Thửa đất 501 của bà được chia đều cho hai cháu đồng sở hữu. Ông P đã ký xác nhận vào biên bản này và ghi lại ngày chính xác là ngày 20/02/2023 (vì tiêu đề biên bản đánh máy nhầm là năm 2013).

Về căn nhà 02 tầng bà xây trên phần đất của ông P, do anh Nguyễn Hà H2 trực

tiếp sinh hoạt tại địa phương, lại chưa có nhà ổn định, trong khi thời điểm đó mẹ bà còn sống, thể theo nguyện vọng của mẹ bà muốn để anh Nguyễn Hà H2 về sống cùng mẹ bà tại phần nhà đất mà bà đã xây (sau khi đã đổi cho ông Q1), nên bà cùng anh P và anh H2 đều nhất trí việc đó. Để về ở và sinh hoạt, chăm sóc mẹ bà, anh H2 có hoàn thiện, cải tạo và mua sắm đồ dùng để ổn định cuộc sống. Số tiền anh H2 đã bỏ ra thực tế bao nhiêu bà không rõ, nhưng anh H2 nói với bà khoảng hơn 300 triệu đồng. Anh H2 ở ngôi nhà đó chăm sóc mẹ bà cho đến khi mẹ bà qua đời.

Ngày 19/7/2023, bà cùng ông P và ông H2 ký biên bản thỏa thuận ba bên có nội

dung: nay hai cháu Hà P1 và Duy A1 có nhu cầu sử dụng nhà đất nên ông H2 lại chuyển về phần nhà đất (Phần thứ ba) mà ông H2 được bố mẹ bà chia cho theo di chúc; bà và ông P thay mặt hai cháu Hà P1 và Duy A1 nhận bàn giao lại nhà đất đó từ ông H2, đồng thời tại biên bản làm việc ngày 04/8/2023 giữa bà cùng ông P và ông H2, với sự chứng kiến của bà Y và bà H3 thể hiện bà cùng ông P hỗ trợ ông H2 số tiền 400 triệu đồng để di dời về phần đất của ông H2. Nhưng thực tế bà là người duy nhất đã đền bù toàn bộ cho ông H2 chi phí hoàn thiện ngôi nhà 02 tầng, cũng như công lao tôn tạo, sửa chữa căn nhà với số tiền 400 triệu đồng ngày 04/8/2023. Điều này cũng được xác nhận từ ông H2 tại Biên bản bàn giao nhà ở gia đình (không ghi ngày) như sau: “Ngày 04/8/2023, tôi là Nguyễn Hà H2 đã nhận đủ số tiền đền bù sửa chữa, nâng cấp nhà ở của bà Nguyễn Thùy H đền bù cho tôi, số tiền tôi đã nhận là 400.000.000đồng”.

Ngày 31/7/2023 bà có mời ông P cùng văn phòng thừa phát lại quận N đến tại

nhà bà để lập vi bằng số 978/2023/VB-TPLQNTL với toàn bộ nội dung bà đã khai nêu trên. Tài liệu đính kèm Vi bằng này gồm có Biên bản tóm tắt nguồn gốc thửa đất ngày 31/7/2023; đính kèm biên bản tóm tắt thửa đất này gồm có: Biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 21/02/2002; Biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013; Biên bản thỏa thuận ngày 20/02/2023; Biên bản thỏa thuận ba bên ngày 19/7/2023. Toàn bộ các tài liệu nêu trên đều do ông P giữ bản gốc, bàn giao trực tiếp cho T15 đính kèm vi bằng như bà đã giao nộp cho Tòa án. Sau đó thừa phát lại bàn giao lại các bản gốc cho ông P giữ, bà không giữ các bản gốc giấy tờ này (nếu có bà sẽ cung cấp).

Khi ông H2 bàn giao lại nhà cho bà, bà đã khóa căn nhà 02 tầng này lại. Tuy

nhiên, ông Q1 đã tự ý cắt khóa, chuyển đồ đạc của ông Q1 vào nhà và ngang nhiên chiếm giữ trái pháp luật nhà đất mà bà đang quản lý hợp pháp. Ông Q1 không đóng góp xây dựng gì vào ngôi nhà hai tầng cũng như tài sản khác gắn liền với đất tại Phần đất thứ hai này, hơn nữa kể từ thời điểm ông Q1 hoán đổi vị trí đất cho ông P, thì ông Q1 đã không còn bất cứ quyền lợi hay nghĩa vụ gì liên quan đến Phần đất thứ hai này.

Do đó, bà đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế của bố mẹ bà để lại theo các văn

bản được coi là di chúc. Tuy nhiên, do có sự việc đổi đất ở Thửa đất 499 cùng với việc bà Y đã xây dựng trên phần đất được chia cho bà H3 ở Thửa đất 501 nên đề nghị Quý Tòa chia cho bà Y, anh T1 chị L, ông H2, vợ con ông M1, ông V đúng như hiện trạng đang quản lý hiện nay. Ông Q1 vẫn được ở Phần đất thứ năm đã đổi cho ông P. Còn Phần đất thứ hai của Thửa đất 499 của bà và ông P, thì bà có nguyện vọng được chia trực tiếp bằng hiện vật là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại Phần đất thứ 2 này. Phần đất của bà và ông P tại Thửa đất 501 để cho ông P quản lý, sử dụng. Bà sẽ thanh toán cho ông P phần chênh lệch giá trị đất hai Thửa theo quy định của pháp luật.

Về công trình xây dựng trên đất của Phần đất thứ hai thuộc Thửa đất 499 là do

bà tự bỏ tiền riêng của mình ra xây dựng, đồng thời bà đã bỏ tiền ra xây nhà 01 tầng mái bằng cho phần đất của ông B1 để đổi lấy thêm diện tích đất cho Phần đất thứ 2. Bà cũng là người duy nhất thanh toán tiền hỗ trợ di dời cho ông H2 là 400 triệu đồng. Bà là người trực tiếp thanh toán tiền xây dựng với thợ, do đó công sức tạo lập, tôn tạo của bà đối với ngôi nhà này là lớn hơn, bà đề nghị được chia ¾ so với giá trị hiện tại của quyền sử dụng đất, cùng căn nhà, tài sản gắn liền trên đất đã được hội đồng định giá vào ngày 21/12/2023.

Hiện ông P đã có nhà cửa, có đăng ký thường trú, sinh sống ổn định trên thành

phố Đ, con ông P là cháu Hà P1 cũng không sinh sống, đăng ký thường trú tại nhà đất đang tranh chấp. Trong khi đó, cháu Nguyễn Hà Duy A1 được sinh ra, lớn lên, trực tiếp sinh sống và đăng ký thường trú trên nhà đất tranh chấp này từ khi sinh ra cho đến nay cùng bố mẹ bà. Hiện, cháu Duy A1 là người duy nhất còn đăng ký thường trú tại nhà đất đang tranh chấp mà ông Q1 chiếm giữ.

Việc bà và ông P thống nhất cho đất cho hai cháu Hà P1 và Duy A1 chỉ là thỏa

thuận và ý nguyện đơn phương của bà và ông P, chưa thực hiện bất kỳ thủ tục pháp lý nào khác với cháu Hà P1 và Duy A1, cũng như chưa đăng ký với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, cũng chưa được các Cơ quan pháp luật phân định quyền sử dụng đất cụ thể để thỏa thuận phân chia cho các cháu. Do đó, đề nghị Tòa án vẫn phân chia quyền lợi trực tiếp cho bà và ông P, còn việc cho cháu Hà P1 hay Duy A1 như thế nào, ông bà sẽ tự thực hiện sau theo thủ tục pháp luật quy định.

Về các khoản tiền mà bà đã chi trả liên quan tới Căn nhà của ông Nguyễn Hà

B1 trên thửa đất thứ nhất; tiền xây dựng căn nhà 02 tầng tại Phần đất thứ 2; 400 triệu đồng đền bù cho ông Nguyễn Hà H2 và các khoản tiền khác (nếu có) đều là tài sản riêng của cá nhân bà, không phải tải sản chung của bà với bất kỳ ai. Do bà chưa từng đăng ký kết hôn hợp pháp với ai.

Theo Đơn khởi kiện ban đầu, bà có yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của bố

mẹ bà để lại theo pháp luật, bởi bà nhận thấy B3, Mẹ bà chết không để lại Di chúc, mà chỉ để lại Biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 21/02/2002 có nội dung chia thửa đất 499 cho 06 con trai và Biên bản chia đất ngày 02/11/2006 có nội dung chia thửa đất 501 cho 04 con gái. Bà không nghĩ đó là di chúc của bố mẹ bà.

Tuy nhiên, sau khi tham gia tố tụng và qua quá trình thu thập chứng cứ của Quý

Tòa, tất cả các anh, chị, em của bà và những người liên quan khác đều xác định Biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 21/02/2002 cho 06 con trai và Biên bản chia đất cho các con ngày 02/11/2006 cho 04 con gái là Di chúc, thể hiện nội dung, nguyện vọng của các cụ. Vì vậy, bà cũng tôn trọng ý kiến của các cụ và nhất trí thừa nhận 02 Biên bản đó là Di chúc do B3, Mẹ bà để lại.

Vì vậy, bà xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể như sau:

1.Chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Hà L2 và cụ Dương Thị T8 theo nguyện

vọng tại Biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 21/02/2002 cho 06 con trai và Biên bản chia đất cho các con ngày 02/11/2006 cho 04 con gái, kết hợp với việc đổi đất giữa ông P, ông Q1 và bà thể hiện tại Biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 (như đã nêu trên). Cụ thể gồm 02 di sản:

* Di sản thứ nhất: toàn bộ Quyền sử dụng đất có diện tích 345m2 tại Thửa đất

số 499, tờ bản đồ số 26 theo Bản đồ địa chính, sổ mục kê năm 2013 tại thôn Đ, xã H, huyện U, thành phố Hà Nội (Thửa đất số 499).

* Di sản thứ hai: toàn bộ Quyền sử dụng đất có diện tích 381,9m2 tại Thửa đất

số 501, Tờ bản đồ số 05; Địa chỉ: Xã H, Huyện U, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở vào sổ số GCNCH 00941 do Ủy ban nhân dân huyện U cấp ngày 24/10/2006, đứng tên Chủ sử dụng đất - ông Nguyễn Hà L2 (Thửa đất số 501).

2. Công nhận sự thỏa thuận của các bên trong các Văn bản dưới đây là có giá trị

pháp lý:

* Bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 có sự tham gia ký của: ông Nguyễn Hà B1,

ông Nguyễn Hà Q1, ông Nguyễn Hà P, bà Nguyễn Thùy H, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị Y, cụ Nguyễn Hà L2, cụ Dương Thị T8, anh Nguyễn Hà Duy A1 trong đó có nội dung liên quan tới việc ông Nguyễn Hà Quang H7 đối vị trí đất với ông Nguyễn Hà P và ông Nguyễn Hà B1 đồng ý chia một phần đất cho bà Nguyễn Thùy H để gộp với phần của ông Nguyễn Hà P (sau hoán đổi);

* Biên bản thỏa thuận 03 bên ngày 19/7/2023 giữa ông Nguyễn Hà P, Nguyễn

Hà H2 và bà Nguyễn Thùy H;

3. Yêu cầu Quý Tòa chia di sản thừa kế cho bà bằng hiện vật là quyền sử dụng

toàn bộ diện tích đất (Phần đất thứ 2 mà ông Q1 đang chiếm giữ). Trường hợp, phần quyền lợi của bà được hưởng có giá trị lớn hơn quyền lợi của người thừa kế khác, bà sẽ thanh toán lại phần chênh lệch bằng tiền theo quy định của pháp luật.

4. Công nhận Quyền sở hữu của bà đối với toàn bộ phần công trình xây dựng và

tài sản khác gắn liền trên đất thuộc phần diện tích đất tọa lạc tại Phần đất thứ 2 (nằm giữa phần thứ nhất của ông Nguyễn Hà B1 và Phần thứ 3 của Ông Nguyễn Hà H2).

Liên quan đến các giấy tờ, tài liệu liên quan đến vụ án, có như thế nào bà đã

giao nộp cho Tòa án. Bản gốc biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 bà không giữ, tại buổi lập vi bằng, sau khi Thừa phát lại quận N lập vi bằng xong thì gửi lại Biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 bản gốc cho ông Nguyễn Hà P là người giữ. Lý do bà phải yêu cầu lập vi bằng là do bản gốc biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 ông P giữ. Bà không có giấy tờ, tài liệu nào khác để giao nộp cho tòa án. Liên quan đến yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết bố bà - Nguyễn Hà L2 trong Biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 của ông Nguyễn Hà Q1, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Theo biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án Bị đơn

- anh Nguyễn Hà T1 và chị Nguyễn Thị L đều trình bày:

Về mối quan hệ, anh T1 và chị L là hai anh em ruột. Bố đẻ anh T1 chị L là

Nguyễn Hà B1, chết năm 2022, mẹ đẻ là Lê Thị T11, chết năm 2015. Bố mẹ anh chị không còn người con nuôi, con đẻ hay con ngoài dã thú nào khác. Ông bà nội anh chị là Nguyễn Hà L2 chết năm 2013, Dương Thị T8 chết năm 2020. Ông bà nội anh chị có 10 người con như lời trình bày của bà Nguyễn Thùy H, ông Nguyễn Hà H2, bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị Y có trong hồ sơ là đúng. Bà H – nguyên đơn trong vụ án là cô ruột của anh chị. Liên quan đến thửa đất đang tranh chấp trong vụ án, hiện nay có gia đình anh chị đang trực tiếp sinh sống gồm có: Nguyễn Hà T1, sinh năm 1989; Lê Thị Mỹ Q2, sinh năm 1989 (vợ anh T1); Nguyễn Lê Khả H4, sinh năm 2018, Nguyễn Hà Gia H5, sinh năm 2021 (đều là con anh T1 chị Q2); Nguyễn Thị L, sinh năm 1987; Nguyễn Phương L1, sinh năm 2021 (con chị L). Chị L sống độc thân, không có chồng. Hiện nay, hai gia đình anh chị đang sinh sống và kinh doanh, ngoài ra không còn ai khác.

Khi còn sống, ông bà nội anh chị có tài sản là 02 thửa đất số 499 và 501 như các

cô chú anh chị khai có trong hồ sơ vụ án. Khi còn sống ông bà nội anh chị đã phân chia 02 thửa đất này cho 10 người con, thửa 501 ở trong làng cho 04 cô con gái, thửa 499 ở mặt đường quốc lộ 21B được chia cho 06 người con trai theo thứ tự 06 phần: ông B1 -> ông Q1 -> ông H2 -> ông M1 -> ông P -> ông V (theo hướng từ Hà Nội đi Hồ N). Hiện nay, anh chị đang quản lý, sinh sống trên phần đất mà ông B1 (bố anh chị) được Ông bà nội tôi chia cho ban đầu phần đất này có mặt tiền rộng nhất hình như khoảng 6,5m nhưng sau khi giữa bà H ông Q1 và ông P có sự đổi đất cho nhau thì bà H có làm việc với bố anh chị về nội dung cắt bớt một phần đất mặt tiền phần đất của bố anh chị sang cho phần của ông Q1 để hai phần đất này có mặt tiền bằng nhau như bây giờ, khi đó bà H bỏ tiền ra xây ngôi nhà này cho bố anh chị, tầng một ngôi nhà là do bà H cho bố anh chị tiền để xây khoảng năm 2013, tầng hai ngôi nhà là do anh chị bỏ tiền ra xây dựng thêm. Liên quan đến phần đất thứ hai được chia cho ông Q1 và phần đất thứ năm được chia cho ông P, trước đây anh chị được biết giữa ông Q1, ông P và bà H có sự thỏa thuận đổi cho nhau nhưng sau này ông Q1 không đồng ý đổi nữa nên quay lại đòi, còn cụ thể như nào nữa anh chị không biết.

Bố mẹ anh chị chết đi không để lại di chúc, anh chị đang giữ một bản di chúc

của ông bà nội anh chị để lại về nội dung chia thửa đất 499 cho sáu người con trai, anh chị đã nộp bản photo cho tòa án.

Vợ anh T1 đang bận nuôi con nhỏ nên anh T1 đại diện thay vợ con làm việc với

tòa án tất cả các vấn đề liên quan đến vụ án. Anh T2 nhận trách nhiệm giao lại các văn bản tố tụng và nội dung làm việc của tòa án cho vợ con anh.

Nay bà H khởi kiện yêu cầu chia di sản của ông bà nội anh chị để lại là hai thửa

đất 499 và 501 nêu trên, quan điểm anh chị là hai thửa đất này đã được ông bà nội anh chị chia cho mười người con khi còn sống nên không còn là di sản của ông bà nội anh chị nữa, phần đất ông bà nội anh chị chia cho bố anh chị mà hiện nay anh chị đang quản lý, sinh sống là của anh chị, anh chị không đồng ý chia cho ai khác. Do sức khỏe của chị L yếu, chị Quyên B4 nuôi con nhỏ nên chị L và chị Q2 đều có quan điểm ủy quyền cho anh T2 được thay mặt chị L và chị Q2 được toàn quyền tham gia làm việc giải quyết quyết định mọi vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án, mọi ý kiến của anh T2 cũng là ý kiến của chị L và chị Q2 về việc giải quyết vụ án; việc ủy quyền này có hiệu lực đối với việc giải quyết vụ án tại tòa án nhân dân huyện U cũng như tòa án nhân dân các cấp cho đến khi giải quyết xong vụ án.

Sau này Tòa án không cần gửi giấy triệu tập cho anh chị nữa mà chỉ cần gọi điện

cho anh T2 là anh T2 sẽ lên làm tòa án làm việc hoặc gửi văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Hà H2 hoặc bà Nguyễn Thị Y nhận thay anh chị cũng được.

Theo biên bản lấy lời khai có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan - ông Nguyễn Hà H2 (chị Trần Thu H6 là vợ anh H2 ủy quyền cho anh H2 tham gia tố tụng trong vụ án) trình bày:

Bố mẹ đẻ ông là cụ Nguyễn Hà L2 và Dương Thị T8. Cụ L2 chết năm 2013, cụ

T8 chết năm 2020. Bố mẹ ông có 10 người con như nguyên đơn - bà H trinh bày ở trên.

Ông bà ngoại và ông bà nội của ông đều chết từ lâu, đều chết trước bố mẹ đẻ

ông. Bố mẹ đẻ ông không có bố mẹ nuôi, con nuôi, con đẻ, con ngoài dã thú nào khác.

Bố mẹ ông chết đi để lại di sản gồm có:

Tài sản 01: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa

đất số 499, tờ bản đồ số 26, diện tích 345m2, theo bản đồ địa chính và sổ mục kê năm 2013 (trước đây là thửa đất số 624, tờ bản đồ số 02 theo bản đồ địa chính và sổ mục kê năm 1985) tọa lạc tại thôn Đ, xã H, huyện U. Thửa đất này hiện chưa được cấp giấy chứng nhận.

Tài sản 02: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa

đất số 501, tờ bản đồ số 05, diện tích 381,9m2, loại đất ở, tọa lạc tại thôn Đ, xã H, huyện U, do UBND huyện U cấp cho ông Nguyễn Hà L2 ngày 24/10/2006, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: 00941/ƯH.

Đối với thửa đất 501 khi còn sống bố mẹ ông chia cho 4 cô con gái, việc chia

này có giấy tờ hay di chúc không thì ông không biết. Hiện nay, trên thửa đất 501 có chị Nguyễn Thị Y xây 01 căn nhà và cùng cả gia đình sinh sống trên đó, phần còn lại là đất trống. Chồng bà Y là Đinh Văn T6, sinh năm 1963, bà Y và ông T6 có 02 con là Đinh Thị D, sinh năm 1992 và Đinh Thị B2, sinh năm 1997.

Đối với thửa đất 499, bố mẹ ông có để lại di chúc phân chia cho 6 người con trai,

mỗi người một suất. Di chúc này để ông về tìm lại ông sẽ nộp lại cho Tòa án sau. Khi còn sống bố mẹ ông có xây dựng căn nhà cấp 4 và khu chuồng trại chăn nuôi theo dọc mặt đường thửa đất và bố mẹ ông vẫn trực tiếp sinh sống trên thửa đất này cho đến khi chết đi. Theo thứ tự phân chia theo di chúc bố mẹ ông để lại (theo hướng từ Hà Nội đi Hồ N) thì thửa đất 499 nằm bên trái đường, được chia thành 6 phần cho 6 con trai theo thứ tự như sau:

Phần thứ nhất chia cho ông B1, hiện nay do 2 con của anh B1 là T2 và L quản

lý sử dụng, phần đất này có ngôi nhà 2 tầng, tầng 1 do chị H bỏ tiền ra xây dựng khoảng năm 2012, tầng 2 là do anh T2 và chị L bỏ tiền ra xây dựng khoảng năm 2021.

Phần thứ hai chia cho ông Q1, hiện nay trên đất có ngôi nhà 2 tầng do bà H và

ông P bỏ tiền ra xây dựng khoảng năm 2012.

Phần thứ ba chia cho ông, trên đất có ngôi nhà 02 tầng (tầng 1 và gác lửng ông

xây năm 2000, tầng 2 ông mới xây sửa lại tháng 7 năm 2023) do ông bỏ tiền ra xây dựng chứ không phải nguồn tiền là do bà H đưa cho ông 400 triệu đồng như bà H khai.

Phần thứ tư chia cho ông M1 là kiot hiện do vợ con ông M1 quản lý và cho

người khác thuê.

Phần thứ năm chia cho ông P là kiot hiện ông P đang quản lý và cho người khác

thuê.

Phần thứ sáu chia cho ông V là kiot hiện do ông V quản lý và cho người khác

thuê. 03 kiot hiện được chia cho ông M1, ông P và ông V do ai bỏ tiền ra xây dựng thì ông không biết, đều xây dựng khoảng năm 2008.

Sau này, ông được biết giữa ông Q1 và ông P cùng bà H có thỏa thuận về việc

đổi phần đất thứ hai và thứ 5 của ông P và ông Q1 cho nhau, việc đổi này có lập văn bản hay không thì ông không biết. Tuy nhiên, sau này ông Q1 thay đổi không đồng ý đổi như thế nữa thì có mẹ ông khi đó còn sống có nói là để ông sang ở phần thứ hai của ông Q1, ông P sang ở phần thứ ba của ông, ông Q1 sang ở phần thứ 5 của ông P, do đó ông sang phần đất thứ hai ở và chăm sóc mẹ ông lúc tuổi già, khi đó trên phần đất này bà H và ông P bỏ tiền ra xây dựng ngôi nhà 02 tầng nhưng chưa hoàn thiện nên ông có về ở và hoàn thiện hết số tiền 350 triệu đồng. Khi mẹ ông chết đi, ông Q1 và ông P vẫn xảy ra tranh chấp nên ông lại về phần đất thứ ba được bố mẹ chia cho để ở, lúc này bà H bồi thường trả lại cho ông số tiền ông bỏ ra hoàn thiện ngôi nhà 02 tầng tại phần thứ hai trước đây và ông lấy tiền này để xây dựng ngôi nhà trên phần đất thứ ba ông được bố mẹ chia chứ không phải bà H bỏ 400 triệu đồng ra xây dựng nhà cho ông.

Trước khi rời khỏi nhà ở phần đất thứ hai ông có điện thoại cho ông P và bà H

để về nhận bàn giao lại nhưng do ông P và bà H bận chưa về được nên ông dọn về nhà ở phần đất thứ ba ở, khóa cửa nhà phần đất thứ hai chờ ông P và bà H về bàn giao thì ông Q1 đã cho đổ 2 xe đá ngay trước cửa nhà và cắt khóa thay khóa mới, chuyển đồ đạc của ông Q1 vào trong khu nhà đó.

Về công sức chăm sóc bố mẹ khi về già ông không đề nghị được chia.

Nay bà H có đơn khởi kiện đến Tòa án đề nghị chia di sản thừa kế do bố mẹ ông

để lại theo pháp luật, quan điểm của ông: ông không đồng ý vì phần đất của thửa 499 bố mẹ ông có để lại di chúc phân chia cho 6 người con trai, ông đang ở ổn định với phần ông được chia nên không thể chia theo pháp luật được. Còn phần đất tại thửa 501 ông không có ý kiến, ông mong các anh em trong nhà giữ nguyên khi bố mẹ ông còn sống đã chia cho các con. Ông mong muốn ông Q1, ông P và bà H giữ nguyên thỏa thuận đổi đất để đỡ gây bất hòa trong gia đình.

Theo biên bản lấy lời khai có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan - bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị H3 đều trình bày: Bà hoàn toàn nhất trí với lời khai của ông H2 nêu trên.

Bà được biết khi ông Q1, ông P và bà H thỏa thuận đổi đất thì ông B1 còn sống,

khi đó bà H và ông P cũng thỏa thuận và được ông B1 đồng ý cắt bớt 1m mặt tiền phần thứ nhất của ông B1 để gộp vào phần thứ hai cho ông P để nhà rộng, sau này anh em con cháu về tụ họp có chỗ ở cho thoải mái.

Về công sức chăm sóc bố mẹ lúc tuổi già hay ốm đau bà không có yêu cầu đề

nghị gì. Bà được biết bà H và ông P cũng có thỏa thuận về việc đổi phần đất bà H được bố mẹ chia ở thửa 501 với phần đất ông P được chia ở thửa 499 sau khi đã thỏa thuận đổi với ông Q1, bà H đã thanh toán tiền chênh lệch cho ông P.

Nay bà H có đơn khởi kiện đến Tòa án đề nghị chia di sản thừa kế do bố mẹ bà

để lại theo pháp luật, quan điểm của bà: đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Bà mong muốn ông Q1, ông P và bà H giữ nguyên thỏa thuận đổi đất để đỡ gây bất hòa trong gia đình.

Liên quan đến yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết bố bà - Nguyễn Hà

L2 trong Biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 của ông Nguyễn Hà Q1, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, bà Y còn khai thêm: Liên quan đến ngôi nhà 02 tầng xây trong thửa

đất 501 trong vụ án: ngôi nhà đó vợ chồng bà xây năm 2010; nguồn tiền xây dựng hoàn toàn là của vợ chồng bà, tuy nhiên do là tranh chấp đất của bên đằng nhà bà là bên đằng vợ nên chồng bà tế nhị không muốn tham gia, chồng bà cũng xin phép không lên tòa án làm việc, mọi việc đều do bà đại diện thay cho chồng bà. Hiện nay, trên nhà và đất này gia đình bà đang trực tiếp sinh sống và có đăng ký thường trú trên đó gồm có: bà - Nguyễn Thị Y; chồng bà - Đinh Văn T6, sinh năm 1962; con gái bà - Đinh Thị Thùy D, sinh năm 1992; con gái bài - Đinh Thị Bách T7, sinh năm 1995; cháu ngoại bà - Phương Việt A2, sinh năm 2017 (con chị D); cháu ngoại bà - Phương Phúc A4, sinh năm 2021 (con trai chị D). Ngoài ra, không còn ai khác có đăng ký thường trú/tạm trú hay trực tiếp sinh sống trên nhà đất này. Bà cũng đại diện thay cho các con và cháu bà tham gia tố tụng trong vụ án này. Bà nhận trách nhiệm giao lại các văn bản tố tụng của tòa án cho chồng, con, cháu bà có tên nêu trên ngay trong ngày bà nhận được từ tòa án.

Bà xây ngôi nhà này khi đó bố mẹ bà vẫn còn sống. Khi còn sống bố mẹ bà đã

chia đều cho 04 chị em gái gồm: Nguyễn Thị Y, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Thùy H, mỗi người 01 suất theo mặt ngõ X thôn Đ, mặt tiền mỗi suất là 3,75m. Tuy nhiên, khi bà xây ngôi nhà như hiện nay có mặt tiền rộng hơn 3,75m, bố mẹ bà cùng 3 chị em gái còn lại đều đồng ý, không có ý kiến gì.

Khi còn sống bố mẹ bà có phân chia 02 thửa đất 499 và 501 cho các con, cụ thể

thửa 499 cho 06 con trai, có di chúc để lại như tài liệu hiện nay Tòa thu thập có trong hồ sơ vụ án; thửa 501 được chia cho 4 con gái, không có di chúc nhưng có bản kẻ phân chia do bố mẹ bà kẻ vẽ để lại như tài liệu hiện nay Tòa thu thập có trong hồ sơ vụ án. Theo quan điểm của bà, nên giữ nguyên nguyện vọng chia đất cho các con của bố mẹ bà khi còn sống.

Liên quan đến tiền ông P gửi về để bà thanh toán tiền vật liệu xây dựng ngôi nhà

do ông Q1 đang quản lý: bà thừa nhận thời điểm xây dựng tầng 1 ngôi nhà đó ông P có gửi tiền về để bà thanh toán tiền vật liệu thay ông P, vì khi đó ông P không ở nhà, tuy nhiên cụ thể số tiền bao nhiêu bà không nhớ, bà chỉ nhớ ông P không thanh toán toàn bộ tiền xây nhà đó, mà chỉ thanh toán một phần, còn lại là bà Nguyễn Thùy H thanh toán. Ngôi nhà đó do cả ông P và bà H bỏ tiền ra xây, cụ thể mỗi người bao nhiêu bà không nhớ vì thời gian đã lâu.

Các lời khai trước đây của bà vẫn giữ nguyên.

Liên quan đến các giấy tờ, tài liệu liên quan đến vụ án, có như thế nào bà đã giao

nộp cho Tòa án hết hiện có trong hồ sơ. Bà không còn giấy tờ, tài liệu nào để giao nộp cho Tòa án.

Bản gốc Biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 bà không giữ, ai giữ bà cũng

không biết. Bà chỉ biết và nhớ, ngày 29/01/2013 những người có mặt tham gia buổi thỏa thuận gồm có: mẹ bà - Dương Thị T8, ông Nguyễn Hà B1, ông Nguyễn Hà Q1, bà Nguyễn Thị H1, bà - Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thùy H, cháu Nguyễn Hà Duy A1 - con trai bà H là người lập biên bản. Chỉ có ông Nguyễn Hà P không trực tiếp tham gia buổi thỏa thuận đó, ông P tham gia buổi thỏa thuận bằng điện thoại, sau này có lần ông P về quê thì ký vào biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 này. Nội dung biên bản thỏa thuận được thể hiện đúng như tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ông Q1 là người cầm biên bản đến chỗ bà ngồi bảo bà ký vào, bà còn hỏi ông Q1 là “sao chú lại xuống dưới đấy làm gì, đất trên này đẹp hơn” thì ông Q1 còn nói “bà thì biết cái gì, bà cứ ký vào đây, đây là việc của anh em trai tôi, kí xong để cái H còn xây nhà để có chỗ cho khách về viếng khi bố chết cho được khang trang”. Tại buổi đó, mẹ đẻ bà - Dương Thị T8 cũng có mặt chứng kiến và tự ký vào biên bản này, còn bố đẻ bà - Nguyễn Hà L2 khi đó đang nằm viện nên bà H cầm Biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 cho ông L2 ký vào biên bản.

Liên quan đến yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết bố bà - Nguyễn Hà

L2 trong Biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 của ông Nguyễn Hà Q1, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Theo biên bản lấy lời khai có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan - bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Bố mẹ đẻ bà là cụ Nguyễn Hà L2 chết năm 2013 và cụ Dương Thị T8 chết năm 2020. Bố mẹ đẻ bà có 10 người con như bà H, bà Y, bà H3, ông H2 là các anh chị em ruột của bà khai có trong hồ sơ vụ án là đúng. Về quan hệ gia đình bà như các anh chị em ruột bà khai có trong hồ sơ là đúng. Bố mẹ đẻ bà không còn con nuôi, con đẻ, con ngoài dã thú nào khác. Ông bà ngoại và ông bà nội của bà đều đã chết từ lâu, đều chết trước bố mẹ bà. Bố mẹ bà chết đi để lại di sản gồm có hai thửa đất số 501 và 499 như nội dung anh chị em ruột bà khai trong hồ sơ vụ án là đúng. Khi bố mẹ bà còn sống, bố mẹ bà có nói phân chia đất cho các con như sau: thửa đất 501 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bố bà là Nguyễn Hà L2 được chia cho 04 cô con gái, việc chia này có được lập giấy tờ, bà có giữ nhưng hiện nay chưa tìm thấy, khi nào tìm thấy bà sẽ chủ động giao nộp cho tòa án. Hiện nay, thửa đất 501 này có bà Y là em gái bà đã xây nhà trên phần đất bà Y được chia và ở trên đó, còn lại là đất trống. Thừa 499 bố mẹ bà viết giấy phân chia đất cho 06 người con trai theo thứ tự hướng chia từ Hà Nội đi Hồ N: ông B1 -> ông Q1 -> ông H2 -> ông M1 -> ông P -> ông V, giấy phân chia đất này được lập thành sáu bản giao cho sáu ông con trai giữ, bà không có giấy này. Sau này, khi bố mẹ bà chết đi giữa ông P, ông Q1 và bà H có thỏa thuận đổi đất cho nhau, việc đổi này được lập thành văn bản do bà H, ông P và ông Q1 giữ (bà không giữ giấy này), cụ thể là phần đất của ông Q1 và ông P đổi cho nhau, sau khi đổi bà H và ông P bỏ tiền ra xây dựng công trình trên đất. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng thì ông Q1 đổi ý không muốn đổi nữa nên xảy ra tranh chấp như hiện nay. Bà được biết bà H và ông P có thỏa thuận về việc sau khi ông P và ông Q1 đổi đất cho nhau thì phần của ông P chia đôi một phần cho con bà H, còn phần đất trong thửa 501 của bà H để cho ông P ,về việc này cụ thể đề nghị tòa làm việc thêm với ông P, ông Q1 và bà H.

Nay bà H có đơn khởi kiện đề nghị tòa án chia di sản thừa kế theo pháp luật là

hai thửa đất 501 và 499 nêu trên, quan điểm của bà: khi còn sống bố mẹ bà đã phân chia đất cho các con hết rồi, bốn cô con gái trong thửa 501, sáu người con trai ở thửa 499 như trên, nên bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà H; còn việc đổi đất giữa ông Q1, ông P và bà H như nào thì là việc của ba người đó, bà không liên quan. Về thửa đất 501, bà đề nghị quá trình giải quyết vụ án tòa án phân chia luôn cho bốn chị em gái các bà để các bà đi xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Vì bà cũng không có liên quan gì nhiều đến vụ án, hiện nay tuổi bà đã cao, sức

khỏe kém, không ổn định nên bà xin phép được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc khác của tòa, bà cũng xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án, bà đề nghị tòa không phải giao bất cứ giấy tờ, tài liệu hay văn bản tố tụng nào cho bà, bà xin từ chối nhận.

Theo biên bản lấy lời khai có trong hồ sơ vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan - bà Nguyễn Thị Y1 trình bày: Chồng bà là ông Nguyễn Hà M1, chết năm 2001. Bố mẹ chồng bà là cụ Nguyễn Hà L2 chết năm 2013 và cụ Dương Thị T8 chết năm 2020. Bố mẹ chồng bà có 10 người con Nguyễn Hà B1, Nguyễn Hà M1, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Hà P, Nguyễn Hà V, Nguyễn Thị Y, Nguyễn Hà Q1, Nguyễn Thùy H, Nguyễn Hà H2 và Nguyễn Thị H3, ngoài ra bố mẹ chồng bà không có con đẻ, con nuôi hay con ngoài dã thú nào khác. Về quan hệ gia đình bà như các anh chị em chồng bà khai có trong hồ sơ là đúng. Bố mẹ chồng bà khi còn sống có 02 tài sản là bất động sản là thửa đất số 501 và 499 như nội dung anh chị em chồng bà khai trong hồ sơ vụ án là đúng. Việc bố mẹ chồng bà có để lại di chúc như nào thì bà không biết, bà chỉ biết khi bố mẹ chồng bà và chồng bà còn sống, bà có nghe chồng bà nói chuyện bố mẹ chồng bà chia thửa đất 501 cho ông Q1 và ông M1 mỗi người một nửa, nhưng sau này bố mẹ chồng bà lại thay đổi chia lại cho bốn cô con gái ở thửa đất 501 còn sáu con trai được chia sáu phần của thửa 499 theo thứ tự: ông B1 -> ông Q1 -> ông H2 -> ông M1 -> ông P -> ông V. Việc chia thửa 501 cho bốn cô con gái có giấy tờ gì không thì bà không biết còn việc chia thửa 499 cho sáu người con trai có lập giấy phân chia quyền sử dụng đất, mỗi người con trai giữ một bản, bản của ông M1 hiện do anh T10 con trai bà đang giữ. Liên quan đến 03 kiot được chia cho ông M1, ông P và ông V thì khi bố mẹ chồng bà còn sống, các anh chị em chồng bà đều góp tiền xây dựng kiot cho thuê, bố mẹ chồng bà sử dụng và quản lý tiền cho thuê kiot này, đến khi bố mẹ chồng bà chết thì ông H2 quản lý tiền cho thuê kiot khoảng 02 năm sau thì bàn giao trả lại phần cho mỗi người, ai có người đó quản lý. Phần của ông M1 được chia hiện anh T10 đang cho con gái bà Y thuê bán hàng. Liên quan đến việc đổi đất giữa bà H, ông Q1 và ông P như nào bà không biết. Về công sức chăm sóc bố mẹ chồng, bà không có ý kiến gì.

Nay, bà H có đơn khởi kiện gửi đến tòa án yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ

chồng bà để lại là thửa đất 499 và 501 nêu trên theo pháp luật, quan điểm của bà: khi bố mẹ chồng bà còn sống đã phân chia cho mười người con như nào thì bà tôn trọng sự phân chia đó của bố mẹ chồng bà. Bà và ông M1 có hai người con Nguyễn Hà T10 và chị Nguyễn Thị Thu T4. Hiện nay, bà tuổi đã cao, thường xuyên ở trên chùa, đường lại xa nên bà xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc khác của tòa, cũng xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án và từ chối nhận tất cả các văn bản tố tụng của tòa án, đề nghị tòa án không giao bất cứ giấy tờ gì cho bà. Ngoài những nội dung khai trên thì bà không còn biết nội dung gì khác, bà cũng không có giấy tờ tài liệu nào để nộp cho tòa.

Theo biên bản lấy lời khai có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan - anh Nguyễn Quốc T3 (tên gọi khác: Nguyễn Hà T10) trình bày: bố đẻ anh là Nguyễn Hà M1, chết năm 2001; mẹ đẻ anh là Nguyễn Thị Y1, sinh năm 1954. Bố mẹ anh sinh được 02 người con: anh - Nguyễn Quốc T3, sinh năm 1981 và em gái anh - Nguyễn Thị Thu T4, sinh năm 1983. Ngoài ra, bố mẹ anh không có con đẻ, con nuôi hay con ngoài dã thú nào khác.

Ông bà nội anh là Nguyễn Hà L2, chết năm 2013 và Dương Thị T8, chết năm

2020. Ông bà nội anh sinh được 10 người con như nội dung các cô chú anh khai trong hồ sơ là đúng.

Anh được tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan. Anh được biết khi còn sống ông bà nội anh có tài sản là 02 thửa đất số 501 (đất vườn) và thửa 499 (mặt đường quốc lộ 21B) đều tọa lạc tại thôn Đ, xã H, huyện U, thành phố Hà Nội như nội dung các cô chú ruột của anh khai trong hồ sơ vụ án. Khi còn sống ông bà nội anh đã phân chia thửa 499 trên cho 6 con trai, trong đó có 1 phần cho bố anh - Nguyễn Hà M1. Việc cho đất này có được lập giấy phân chia quyền sử dụng đất cho 6 con trai, hiện mẹ anh hay em gái anh giữ thì anh không rõ. Phần kiot bố anh được ông bà nội chia cho hiện anh đang quản lý và cho con gái cô Y thuê lại để bán hàng.

Kiot này do bố mẹ anh bỏ tiền ra xây dựng và cho thuê. Khi ông bà nội anh còn

sống ông bà nội anh thu và quản lý tiền thuê kiot. Sau này ông bà chết thì ai quản lý tiền thuê kiot này anh không biết, anh mới quản lý việc cho thuê kiot và thu tiền được 01 năm nay. Anh không có đóng góp tiền của hay công sức gì liên quan đến kiot này cũng như các tài sản khác trên đất tranh chấp trong vụ án.

Liên quan đến việc bà H có đơn khởi kiện gửi đến Tòa án yêu cầu chia di sản của

ông bà nội anh để lại, quan điểm của anh: mẹ anh có quan điểm tôn trọng việc phân chia của ông bà nội cho các con khi còn sống nên anh cũng cùng quan điểm mẹ anh. Nếu anh có được hưởng phần di sản nào của ông bà nội anh hay bố anh để lại trong vụ án này thì anh nhận.

Vì nhà ở xa, anh bận đi làm nên anh xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm

việc khác của tòa án, anh cũng xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án, anh từ chối nhận các văn bản tố tụng của tòa án, Tòa án chỉ cần giao cho anh bản án hoặc quyết định cuối cùng của Tòa án để anh được biết kết quả giải quyết vụ án.

Ngoài Căn cước công dân (bản photo) anh gửi cho T12 thì anh không còn giấy

tờ tài liệu nào khác liên quan đến vụ án để giao nộp cho Tòa án. Ngoài ra, anh cũng không biết thêm nội dung gì khác. Việc đổi đất giữa bà H, ông P và ông Q1 như thế nào anh không biết.

Theo biên bản lấy lời khai có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan - chị Nguyễn Thị Thu T4 trình bày:

Chị có cùng nội dung trình bày như toàn bộ nội dung lời khai của anh Nguyễn

Quốc T3 nêu trên.

Liên quan đến việc bà H có đơn khởi kiện gửi đến Tòa án yêu cầu chia di sản của

ông bà nội chị để lại, quan điểm của chị là tôn trọng quyết định phân chia tài sản của ông bà cho con cháu (đã thể hiện qua Biên bản giao quyền sử dụng đất được lập vào ngày 21/2/2002 và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện U xác nhận vào ngày 09/03/2002). Nếu chị có được hưởng phần di sản nào của ông bà nội chị hay bố chị để lại trong vụ án này chị xin được hưởng phần thừa kế của mình.

Vì sức khoẻ của chị không tốt, nhà ở xa, chị bận đi làm nên chị xin được vắng

mặt tại tất cả các buổi làm việc khác của tòa án, chị cũng xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án, chị xin được nhận các văn bản tố tụng của tòa án để nắm được các thông tin của vụ án. Các văn bản tố tụng xin được gửi về địa chỉ: Nguyễn Thị Thu T4, phòng A tòa C khu đô thị E, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội.

Ngoài Căn cước công dân cùng sổ hộ khẩu gia đình (bản photo), biên bản giao

quyền sử dụng đất (bản photo công chứng) chị gửi cho Tòa kèm theo bản khai này thì chị không còn giấy tờ tài liệu nào khác liên quan đến vụ án để giao nộp cho Tòa án.

Theo biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Hà V và ông Nguyễn Hà P đều trình bày: Về mối quan hệ gia đình, thời điểm chết của cụ L2 và cụ T8 cũng như khi còn sống vợ chồng cụ L2 và cụ T8 có tài sản là 02 thửa đất số 501 và 499 như lời khai của các anh chị em ruột ông khai có trong hồ sơ là đúng. Khi còn sống cụ L2 và cụ T8 đã chia 02 thửa đất này cho các con, cụ thể thửa 501 chia cho 4 con gái, thửa 499 chia cho 6 con trai. Việc chia đất đối với thửa 499 có được lập biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 21/02/2002; việc chia đất đối với thửa 501 cũng có được lập giấy nhưng hiện do ai giữ ông không biết. Đối với thửa đất 499, năm 2003 ông Nguyễn Hà H2 đã xây 01 ngôi nhà cấp 4 (1 tầng 1 lửng). Hiện tại ngôi nhà này chú H2 vẫn đang quản lý, sử dụng. Năm 2013 ông P có làm ngôi nhà 02 tầng khép kín trên diện tích đất của chú Nguyễn Hà Q1 để cho bố mẹ ông ở. Sau khi mẹ ông mất, ông đã giao trả lại diện tích đất cho chú Q1, sau này chú Q1 sẽ bù thêm cho ông về phần giá trị nhà sau, ông không đề nghị giải quyết trong vụ án này. Hiện chú Q1 đang quản lý, sử dụng ngôi nhà này. Ông P và ông V không có đóng góp công sức hay tiền của vào 02 thửa đất trên. Ông P chỉ bỏ tiền, công sức để xây dựng ngôi nhà 02 tầng trên thửa đất của chú Q1 hiện đang sử dụng. Nay bà H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của cụ L2 và cụ T8 để lại là hai thửa đất số 499 và 501 nêu trên, quan điểm ông P và ông V đều không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H vì trước hết bố mẹ ông đã chia đất cho các con, đất của người nào thì người đó sử dụng, bản thân bà H đã được bố mẹ chia đất tại thửa 501 và đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 21/02/2002 hiện do bà Nguyễn Thị Y1 (vợ ông Nguyễn Hà M1) đang lưu giữ nên ông P và ông V không có để cung cấp cho Tòa án, các ông đề nghị Tòa án yêu cầu bà Y1 cung cấp. Các ông chỉ cung cấp được bản photo của Biên bản này kèm theo sơ đồ vẽ tay bố mẹ chia đất, bản photo căn cước công dân của các ông. Do đường xa, ông P và ông V đều không thể đến trực tiếp tòa án tham gia tố tụng, làm việc tại Tòa án nhân dân huyện U được, ông P và ông V xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc khác của Tòa án nhân dân huyện U, cũng như xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án. Về việc nhận các văn bản tố tụng: các ông đề nghị Tòa án nhân dân huyện U gửi cho các ông qua đường bưu điện (dịch vụ bưu chính) về địa chỉ: Nguyễn Hà P- sinh năm 1960, số nhà H, tổ dân phố C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; Nguyễn Hà V, sinh năm 1962, số nhà D, tổ dân phố F, phường M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.

Ông P khai bổ sung:

Liên quan đến nguồn tiền ông bỏ ra xây dựng ngôi nhà 02 tầng khép kín trên

phần diện tích đất của ông Q1 là tiền của riêng ông P (tức là tài sản riêng của ông P), không phải là của chung vợ chồng ông, không liên quan đến ai khác góp chung gì. Đến bây giờ vợ ông mới biết việc ông xây ngôi nhà 02 tầng ở quê và vợ ông không có ý kiến gì về việc này. Ông không có giấy tờ, tài liệu nào chứng minh cho việc ngôi nhà 02 tầng nêu trên là do ông xây dựng vì việc xây dựng cũng đã lâu rồi. Do đó, ông không có để nộp cho Tòa án. Theo như lời khai của ông thì ông cũng được bố mẹ chia cho 01 phần đất ở thửa 499, lý do năm 2013 ông xây dựng ngôi nhà 02 tầng trên phần đất của ông Q1 được bố mẹ chia cho là vì sau nhiều lần bà H, ông Q1 và ông B1 gọi điện cho ông, trao đổi về việc muốn đổi vị trí đất của ông sang cho chú Q1 nên ông đồng ý, các anh em có lập bien bản thỏa thuận ông không nhớ ngày trong năm 2013. Thực chất khi lập biên bản ông không có mặt, chỉ nghe mọi người trao đổi qua điện thoại. Sau đó, các anh chị em trong nhà có ý kiến là ông sẽ làm nhà để cho bố mẹ ông ở nên ông cũng đồng ý, chủ yếu ông gửi tiền về quê cho bà Nguyễn Thị Y trả tiền vật liệu. Do đó, có sự việc đổi đất giữa ông và ông Q1. Cho đến nay ông không có giấy tờ, tài liệu có liên quan để giao nộp cho Tòa án, ông đề nghị tòa yêu cầu ông Q1 và bà H cung cấp. Đối với giá trị ngôi nhà 02 tầng, ông đề nghị tòa án giải quyết theo quy định pháp luật vì ông cũng không muốn đưa ra giá để anh chị em lại mất tình cảm. Tòa giải quyết đúng quy định pháp luật, ông sẽ chấp hành bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án.

Ông thừa nhận giữa ông và cô H có lập vi bằng số 978/2023/VB-TPLQNTL ngày

31/7/2023 tại văn phòng thừa phát lại quận N là đúng, ông thừa nhận toàn bộ nội dung trong vi bằng đó, tuy nhiên các tài liệu đính kèm trong vi bằng có biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013, ông cũng thừa nhận chữ ký của ông trong biên bản thỏa thuận này là đúng, nội dung thỏa thuận trong biên bản này ông cũng nhất trí. Tại thời điểm lập biên bản thỏa thuận này, ông không có mặt tại buổi thỏa thuận, ông được tham gia buổi thỏa thuận thông qua điện thoại, cô Nguyễn Thùy H là người gọi điện cho ông tại buổi thỏa thuận, ông nhất trí nội dung thỏa thuận trong biên bản này và sau đó ông về quê thì ông mới ký tên vào biên bản thỏa thuận này. Sau này ông thấy ông Q1 thay đổi, không đồng ý với nội dung biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 này nữa và gọi điện cho ông bảo chữ ký của bố ông – Nguyễn Hà L2 trong biên bản này là giả mạo, ông Q1 yêu cầu ông không được thỏa thuận cho đất cho cô H nữa mà phần đất của ai được chia ở đâu thì hưởng như thế. Quan điểm của ông: nếu chữ ký của bố ông - Nguyễn Hà L2 trong biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 là đúng thì ông hoàn toàn nhất trí và giữ nguyên thỏa thuận cho đất cho cô H, còn nếu chữ ký đó là giả thì ông không đồng ý cho đất cho cô H nữa.

Việc đổi đất là giữa ông và ông Q1 đổi cho nhau chứ cô H không có quyền trong

thửa đất 499 để tham gia đổi, cô H chỉ là người làm chứng, chứng kiện sự việc đổi đất giữa ông và ông Q1 với nhau; cô H cũng chỉ làm chứng, chứng kiến sự việc ông B1 đồng ý cắt cho ông thêm khoảng 1m mặt tiền để có hiện trạng rộng như hiện nay vì ông đã thay bố ông trả nợ cho bà Năm M2 theo nội dung Thông báo kết quả xét xử của Tòa án năm 2000. Cô H cũng không phải là người xây dựng ngôi nhà trên phần đất đang tranh chấp này mà do ông gửi tiền về cho bà Y trả tiền xây dựng ngôi nhà. Cô H chỉ trả tiền cho ông H2 số tiền 400.000.000đồng mang tính chất hỗ trợ ông H2 đã tôn tạo, sửa sang ngôi nhà khi về đó ở cùng mẹ tôi để ông H2 chuyển về nhà đất được bố mẹ ông chia cho ông H2, đồng thời cô H chỉ bỏ tiền ra xây dựng phần đất của nhà ông B1 được chia.

Ngay sau đó, ông xin thay đổi quan điểm của ông: Dù chữ ký của bố ông –

Nguyễn Hà L2 trong biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 là đúng hay giả mạo thì ông cũng không cho cô H đất nữa, ông không muốn thực hiện theo thỏa thuận trong Vi bằng trước đó nữa, phần đất ông được bố mẹ chia cho như nào thì ông giữ nguyên thế.

Liên quan đến các giấy tờ, tài liệu liên quan đến vụ án, ông chỉ giữ bản photo

hoặc bản chứng thực, công chứng như các anh em ruột ông đã nộp có trong hồ sơ vụ án chứ ông không có bản gốc để giao nộp cho Tòa án. Bản gốc Biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 21/02/2002 do bà Y1 – vợ ông M1 giữ. Bản gốc Biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 do cô Nguyễn Thùy H giữ. Ông không có giấy tờ, tài liệu nào khác để giao nộp cho tòa án.

Theo biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Hà Q1 trình bày: Về mối quan hệ gia đình, về ngày tháng năm bố mẹ ông chết, bố mẹ ông có 10 người con như các anh chị em ruột của ông khai có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn chính xác. Bố mẹ ông không có con nuôi hay con nào khác.

Di sản thừa kế của bố mẹ ông để lại là thửa đất 501 và 499 như lời trình bày của

các anh chị em ruột của ông trong hồ sơ vụ án. Khi còn sống bố mẹ ông đã phân chia 02 thửa đất này cho 10 người con, cụ thể: thửa đất 501 được chia cho 04 con gái H3 – Y – H – H1; còn thửa đất 499 bố mẹ tôi chia 6 con trai. Việc phân chia bố mẹ ông có lập di chúc thể hiện tại Biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 21/02/2002 có đầy đủ chữ ký của bố mẹ ông, người chứng kiến ông Nguyễn Hà C – là chú ruột ông và có xác nhận của chính quyền địa phương. Sau khi được chia đất, ai được chia phần đất nào đã quản lý, sử dụng, xây nhà cấp 04 ở phần đất đó.

Do đó, việc cô Nguyễn Thùy H khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ

ông để lại theo pháp luật là không đúng, vì bố mẹ ông chết đi có để lại di chúc, khi còn sống đã phân chia đất cho các con hết. Quan điểm của ông đề nghị Tòa án ghi nhận di chúc của bố mẹ ông để lại là B5 Biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 21/02/2002, đồng thời chia thừa kế di sản của bố mẹ ông để lại là thửa đất 501 và 499 theo di chúc.

Giữa ông và ông P có việc đổi phần đất cho nhau, ông P chuyển về ở phần đất ông

được bố mẹ chia cho (là phần đất thứ hai) còn ông chuyển xuống ở phần đất ông P được bố mẹ ông chia cho (là phần đất thứ năm). Việc đổi đất này do cô H âm mưu chủ trì vì khi đó bố ông ốm nằm viện, có nhiều dấu hiệu không qua khỏi, cô H làm dân kinh doanh vì muốn sĩ diện với đối tác bạn bè kinh doanh nên nảy ra ý định đổi đất giữa tôi và ông P, để cô đứng ra xây dựng nhà (phần ông P sau khi đổi với ông) khang trang để khi bố ông chết đi mọi người về viếng được đẹp mặt cô H. Khi đó cả ông và ông P đều nhất trí việc đổi đất như thế. Đến ngày 29/01/2013 cô H lập biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013, tuy nhiên cả ông và ông P đều không có mặt tại buổi thỏa thuận này, ông P thì được biết đến nội dung thỏa thuận và tham gia buổi thỏa thuận thông qua điện thoại, sau này ông P mới về kí biên bản, còn ông - khoảng 11 giờ đêm ngày hôm đó cô H cầm theo biên bản này đến nhà ông bảo tôi ký vào, ông có đọc nội dung biên bản, ông lại thấy bố ông – Nguyễn Hà L2 đã ký vào biên bản nên ông cũng ký vào, khi đó tình hình sức khỏe của bố ông yếu, tâm trí ông rất rối nên ông chỉ nhìn qua thấy chữ ký của bố ông là ông ký, sau này khi bình tĩnh hơn, ông nhìn lại mới nhận ra chữ ký bố ông tại Biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 này là giả mạo, nên ông gọi điện cho ông P nói với ông P biết việc chữ ký giả và yêu cầu ông P không được cho cô H đất, không được cho cô H xây dựng trên đất, vì ông không đồng ý đổi đất cho ông P nữa. Việc đổi đất là giữa ông với ông P, cô H không có quyền gì ở đây.

Trước khi đưa Biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 cho ông ký, cô H đã nhiều

lần gạ, gợi ý bảo ông đổi đất cho ông P nhưng ông đã nói rõ với cô H “nếu bố ông – ông Nguyễn Hà L2 đồng ý việc đổi đất thì ông mới đổi”, do đó cô H đã giả mạo chữ ký, chữ viết của bố ông trong Biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 để lừa ông ký vào đó. Biên bản thỏa thuận này cũng không có xác nhận của cơ quan pháp luật có thẩm quyền.

Nay ông đề nghị Tòa án tiến hành trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết Nguyễn

Hà L2 tại Biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 tại 03 nơi: V2 Bộ C3, V2 Bộ Q3 và V3. Đề nghị Tòa án hoãn phiên tòa ngày 05/3/2023, chờ có kết quả giám định chữ ký chữ viết của bố tôi nêu trên thì Tòa án mới mở phiên tòa.

Liên quan mẫu chữ ký của bố ông – Nguyễn Hà L2 để làm mẫu so sánh trưng

cầu giám định ông đề nghị Tòa án lấy trong hồ sơ khởi kiện giữa nguyên đơn – chị Đinh Thị N với bị đơn – ông Nguyễn Hà L2 tại tòa án nhân dân huyện U vào khoảng năm 1999-2000; trước đây bố ông có tham gia hội cựu chiến binh tại xã H nên có lưu giữ chữ ký, chữ viết của bố ông trong đó.

Liên quan đến các giấy tờ, tài liệu liên quan đến vụ án, ông chỉ giữ bản photo

hoặc bản chứng thực, công chứng như các anh em ruột ông đã nộp có trong hồ sơ vụ án chứ ông không có bản gốc để giao nộp cho Tòa án. Bản gốc Biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 21/02/2002 do bà Y1 – vợ ông M1 giữ. Bản gốc Biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 do cô Nguyễn Thùy H giữ. ông không có giấy tờ, tài liệu nào khác để giao nộp cho tòa án. Bản gốc Biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 do cô Nguyễn Thùy H giữ. ông không có để giao nộp cho tòa án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Lê Thị Mỹ Q2 là vợ anh T2, do anh

T2 và chị L nhận thay các văn bản tố tụng, chị Q2 không lên Tòa cung cấp lời khai cũng như tài liệu chứng cứ nào.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Hà Gia H5 và Nguyễn Lê

Khả H4 đều do anh T2 và chị Q2 là đại diện theo pháp luật; cháu Nguyễn Phương L1 do chị L là đại diện theo pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Đinh Văn T6, chị Đinh Thị Bách

T7 là chồng và con bà Nguyễn Thị Y, do bà Y nhận thay các văn bản tố tụng, ông T6 và chị T7 đều không lên Tòa cung cấp lời khai cũng như tài liệu chứng cứ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – anh Nguyễn Hà Duy A1 do anh Lê

Tuấn Q là đại diện theo ủy quyền trình bày: Anh Nguyễn Hà Duy A1 sinh ra và lớn lên cùng ông bà (tức là cụ L2 và cụ T8) tại Thửa đất số 499, vì lẽ đó anh Duy A1 là người duy nhất có hộ khẩu thường trú cùng cụ L2, cụ T8. Cũng theo xác nhận thông tin cư trú số 300/XN ngày 13/10/2023 của Công an xã H xác nhận: “Căn cứ kết quả tra cứu tang thư nhân hộ khẩu do Công an huyện trả lời, Công an xã H xác nhận tại thời điểm ngày 01/01/2013 hộ ông/bà Nguyễn Hà L2 1924 có 03 nhân khẩu gồm: Nguyễn Hà L2 1924 (chủ hộ), Dương Thị T8 1929 (vợ), Nguyễn Hà Duy A1 1993 (cháu) có HKTT tại xóm A, Đ, H, Ứ, Hà Nội”. Trong quá trình anh Duy A1 phải đi học, làm việc xa nhà thì anh Duy A1 vẫn thường xuyên lui về để thăm và chăm sóc cụ L2, cụ T8. Ngay cả khi cụ L2 mất (2013) và sau này là cụ T8 mất (năm 2020), anh Duy A1 vẫn hay về thăm nhà, dọn dẹp, thắp hương cho hai cụ. Tuy nhiên, vào khoảng tháng 10/2023 ông Nguyễn Hà Q1 – là bác ruột anh Duy A1 tự ý phá khóa để vào chiếm dụng nhà bất hợp pháp, anh Duy A1 không còn điều kiện được vào nhà nữa. ngoài ra, anh Duy A1 có biết việc hoán đổi đất giữa ông Nguyễn Hà Q1 và ông Nguyễn Hà P tại thửa đất 499 nêu trên, tức nếu theo đúng thỏa thuận hoán đổi này thì thứ tự vị trí đất tính từ đầu xóm A trở đi như sau: vị trí số 1 nhà ông Nguyễn Hà B1, vị trí số 2 nhà ông Nguyễn Hà P, vị trí thứ 3 nhà ông Nguyễn Hà H2, vị trí thứ 4 nhà ông Nguyễn Hà M1, vị trí thứ 5 nhà ông Nguyễn Hà Q1, vị trí thứ 6 nhà ông Nguyễn Hà V. Sau đó, bà H đã bỏ tiền ra xây dựng nhà cho ông Nguyễn Hà B1 và chính ngôi nhà tại vị trí số B để phụng dưỡng cụ T8 nên đất vị trí số 2 này được tôn tạo thêm (diện tích mặt tiền bằng với diện tích mặt tiền nhà ông B1, trước đây ông B1 được chia mặt tiền dài nhất), do đó, giữa ong P và bà H đã tự thỏa thuận rằng hai người đều có chung quyền sử dụng và quyền sở hữu tài sản trên đất tại vị trí số B. Sau này, bà H có nói với anh Duy A1 rằng bà H, ông P tự thỏa thuận sẽ tặng cho anh Nguyễn Hà Duy A1 cùng với anh Nguyễn Hà P1 (con ông P) nhà đất tại vị trí số 2 thửa 499, tuy nhiên bà H, ông P hay anh Duy A1 và anh Hà P1 đều chưa thực hiện bất kỳ thủ tục pháp lý nào liên quan đến việc tặng cho cũng như giao nhận nhà đất trên thực tế. Anh Duy A1 được biết bà H đã có đơn khởi kiện tới tòa án yêu cầu chia di sản cụ L2, cụ T8 để lại và có yêu cầu công nhậ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở ại vị trí số 2 thửa đất 499. Anh Duy A1 cho rằng đây là yêu cầu khởi kiện chính đáng vì để nhà đất tại vị trí số 2 thửa đất 499 được như hiện nay, bà H có phần lớn công sức gây dựng, tôn tạo. Do đó, anh Duy A1 đề nghị quý Tòa chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H, cũng là để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của anh Duy A1 vì anh Duy A1 vẫn còn hộ khẩu thường trú tại đây và vẫn có nhu cầu thường trú tại quê hương, thuận tiện trong việc thờ cúng ông bà, tổ tiên.

Theo biên bản lấy lời khai có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan – chị Nguyễn Thị M trình bày: Chị được tòa án thông báo cửa hàng chị đang thuê của ông P là đối tượng tranh chấp trong vụ án và chị được tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Chị thuê cửa hàng của ông P có lập hợp đồng thuê, thỏa thuận giá thuê là sáu mươi triệu đồng trên một năm, thời hạn thuê là hai năm. Hiện nay, chỉ có một mình chị trực tiếp quản lý bán hàng ở đây, sáng đến bán hàng, tối đóng cửa về nhà, ngoài ra không ai khác ở đây. Quan điểm của chị: chị chỉ là người thuê cửa hàng để kinh doanh nên không liên quan gì đến vụ án, chị cam đoan dù kết quả giải quyết vụ án như nào thì chị cũng sẽ chấp hành mọi quyết định của tòa án cũng như của pháp luật, kể cả việc dọn dẹp đồ đạc, hàng hóa để bàn giao lại cửa hàng. Vì không liên quan gì đến vụ án nên chị xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc khác của tòa án, cũng xin được vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án, chị xin từ chối tham gia tố tụng trong vụ án. Tòa án không cần giao bất cứ giấy tờ tài liệu gì cho chị, chị không có giấy tờ tài liệu nào để nộp cho tòa án, trường hợp cần giao văn bản tố tụng nào cho chị thì đề nghị tòa giao cho bà Nguyễn Thị Y nhận thay cho chị cũng được.

Theo biên bản lấy lời khai có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan – chị Nguyễn Thị T5 trình bày: Chị được tòa án thông báo cửa hàng chị đang thuê của chị D là đối tượng tranh chấp trong vụ án và chị được tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Cửa hàng này chị D thuê của ông Nguyễn Hà V. Chị thuê với giá 40.000.000đ/năm, không lập giấy tờ gì, chỉ thỏa thuận miệng khi nào không V cần lấy lại thì chị trả lại. Hiện nay, chỉ có một mình chị trực tiếp quản lý bán hàng ở đây, sáng đến bán hàng, tối đóng cửa về nhà, ngoài ra không ai khác ở đây. Quan điểm của chị: chị chỉ là người thuê cửa hàng để kinh doanh nên không liên quan gì đến vụ án, chị cam đoan dù kết quả giải quyết vụ án như nào thì chị cũng sẽ chấp hành mọi quyết định của tòa án cũng như của pháp luật, kể cả việc dọn dẹp đồ đạc, hàng hóa để bàn giao lại cửa hàng. Vì không liên quan gì đến vụ án nên chị xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc khác của tòa án, cũng xin được vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án, chị xin từ chối tham gia tố tụng trong vụ án. Tòa án không cần giao bất cứ giấy tờ tài liệu gì cho chị, chị không có giấy tờ tài liệu nào để nộp cho tòa án, trường hợp cần giao văn bản tố tụng nào cho chị thì đề nghị tòa giao cho bà Nguyễn Thị Y nhận thay cho chị cũng được.

Theo biên bản lấy lời khai có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan – chị Đinh Thị Thùy D trình bày: Chị được tòa án thông báo cửa hàng chị đang thuê của anh Nguyễn Hà T10 là đối tượng tranh chấp trong vụ án và chị được tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Chị là em họ của anh T10 nên viẹcc thuê cửa hàng không lập giấy tờ gì, chỉ nói miệng với nhau. Chị thuê với giá 2.500.000đ/tháng, thời hạn thuê không xác định, bào giờ anh T10 có nhu cầu lấy lại, thông báo cho chị thì chị sẽ trả lại. Hiện nay, chỉ có một mình chị trực tiếp quản lý bán hàng ở đây, sáng đến bán hàng, tối đóng cửa về nhà, ngoài ra không ai khác ở đây. Quan điểm của chị: chị chỉ là người thuê cửa hàng để kinh doanh nên không liên quan gì đến vụ án, chị cam đoan dù kết quả giải quyết vụ án như nào thì chị cũng sẽ chấp hành mọi quyết định của tòa án cũng như của pháp luật, kể cả việc dọn dẹp đồ đạc, hàng hóa để bàn giao lại cửa hàng. Vì không liên quan gì đến vụ án nên chị xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc khác của tòa án, cũng xin được vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án, chị xin từ chối tham gia tố tụng trong vụ án. Tòa án không cần giao bất cứ giấy tờ tài liệu gì cho chị, chị không có giấy tờ tài liệu nào để nộp cho tòa án. Liên quan đến kiot cửa hàng bên cạnh hiện chị T5 đang thuê bán hàng, kiot này chị thuê của ông Nguyễn Hà V và cho chị T5 Thuê lại. Việc thuê cũng chỉ bằng miệng, giá thuê 40.000.000đ/năm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Chi cục thủy lợi và phòng chống

thiên tai H11 do ông Lê Anh T2 – hạt trưởng hạt quản lý Đê Ứ - M là đại diện theo ủy quyền trình bày: Đối tượng tranh chấp trong vụ án là thửa đất thuộc địa phận thôn Đ, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội (mặt đường quốc lộ 21B) có liên quan đến hành lang bảo vệ đê do Hạt quản lý đê Ứ - M đang quản lý. Triển khai thực hiện Luật Đê điều, Quyết định số 1821/QĐ-TTg ngày 07/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phòng lũ và đê điều hệ thống song Đáy. Ngày 10/4/2018, UBND thành phố đã có văn bản số 2322/UBND-KH&ĐT giao sở N2 triển khai dự án cắm mốc chỉ giới hành lang bảo vệ đê điều song Đáy. Hiện nay, dự án đã hoàn thành việc triển khai cắm mốc ngoài hiện trường, trong đó có địa bàn xã H, huyện U. Vị trí thửa đất đang tranh chấp nêu trên tại vị trí Km 71+361 hạ lưu đê tả Đáy (nằm trong khu dân cư), theo đó hành lang bảo vệ đê được tính từ chân đê trở ra 5m. Phạm vi bảo vệ đê được xác định bởi các mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ đê: TD-HL 790 (X 578735.174; Y 2287801); TD-HL 791 (X 578798.395; Y 2287750). Ngoài những thông tin trên, ông không còn tại liệu, chứng cứ, thông tin nào khác để cung cấp cho Tòa án. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Vì lý do công việc, ông xin phép được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc khác của tòa án, cũng xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án, đề nghị Tòa án không phải giao bất cứ văn bản tố tụng nào cho ông, tòa án chỉ cần giao cho ông bản án,thông báo kháng cáo (nếu có) để ông biết kết quả giải quyết của vụ án.

Người làm chứng – bà Nguyễn Thị T13 trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn

Hà P, bà cam đoan nguồn tiền ông P bỏ ra xây dựng ngôi nhà 02 tầng cho bố mẹ ông P ở khi ông bà còn sống tại thôn Đ, xã H, huyện U, thành phố Hà Nội, hiện ông Q1 đang quản lý và sử dụng, ngôi nhà này là tiền riêng của ông P, không liên quan đến bà, bà từ chối tham gia tố tụng trong vụ án.

Người làm chứng – văn phòng Thừa phát lại quận N trình bày: Thừa phát lại

đã lập vi bằng theo đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật, đồng thời sao gửi cho Tòa án 01 bộ hồ sơ bản chụp Vi bằng số 978/2023/VB-TPLQNTL lập ngày 31/7/2023.

Tại công văn số 17/BC-UBND ngày 29/01/2024 của UBND xã H có trong hồ

sơ vụ án thể hiện: đối với thửa đất 499 qua kiểm tra, xác minh theo bản đồ, sổ mục kê năm 2013 thể hiện, tại tờ bản đồ số 26 đo đạc năm 2013 diện tích thửa đất là 345m2 là loại đất ở nông thôn do ông Nguyễn Hà L2 (đã chết) là chủ sở hữu. Hiện nay, thửa đất đã được chia làm 06 ô đất cụ thể theo hướng từ xóm A, Đinh X đi xóm A, D, H như sau:

Ô thứ nhất: bề ngang khoảng 6,15m; đã được xây dựng 01 ngôi nhà 2 tầng và

hiện nay hộ gia đình anh Nguyễn Hà Tuấn S nă 1989 (là con ông Nguyễn Hà B1, là cháu nội cụ Nguyễn Hà L2) đang ở và là chủ sở hữu. Hộ gia đình anh Nguyễn Hà T1 gồm có: Nguyễn Hà T1, sinh năm 1989 (chủ hộ), Nguyễn Thị L, sinh năm 1987 (Chị), Lê Thị Mỹ Q2, sinh năm 1989 (vợ), Nguyễn Lê Khả H4, sinh năm 2018 (con đẻ), Nguyễn Hà Gia H5, sinh năm 2021 (con đẻ), Nguyễn Phương L1, sinh năm 2021 (cháu). Tất cả có HKTT: xóm A Đ - H - Ứ - Hà Nội.

Ô thứ hai: bề ngang khoảng 5m, đã được xây dựng 01 ngôi nhà 03 tầng. Căn cứ

sổ HK11 tại quyển 1, xóm A, Đinh Xuyên trang 13 thể hiện có 01 nhân khẩu đăng ký thường trú là Nguyễn Hà Duy A1 1993 – chủ hộ. Có HTT tại xóm A Đ - H - Ứ - Hà Nội; hiện nay ngôi nhà này do ông Nguyễn Hà Q1 (con cụ Nguyễn Hà L2) ở, sử dụng và quản lý.

Ô thứ ba: bề ngang khoảng 4,5m. Đã xây dựng ngôi nhà 01 tầng, hiện nay có ông

Nguyễn Hà H2 (con trai cụ Nguyễn Hà L2) đang sở hữu, ở và sinh sống.

Ô thứ tư: bề ngang khoảng 3,45m, đã xây dựng nhà cấp 4, hiện nay chị Đinh Thị

Thùy D sinh năm 1992 đang sử dụng để buôn bán và chị D đã thuê lại của anh Nguyễn Hà T10 (con trai ông Nguyễn Hà M1, cháu nội cụ Nguyễn Hà L2);

Ô thứ năm: bề ngang khoảng 3,3m, đã xây dựng nhà cấp 4, hiện nay chị Nguyễn

Thị M sinh năm 1994 ở xóm A D - H đang sử dụng để buôn bán và chị M thuê lại của ông Nguyễn Hà P (con cụ Nguyễn Hà L2).

Ô thứ sáu: bề ngang rộng khoảng 3m, đã xây dựng nhà cấp 4, hiện chị Nguyễn

Thị T5 sinh năm 1977 ở xóm G - Đ đang sử dụng để buôn bán, chị T5 thuê lại của ông Nguyễn Hà V (con trai cụ L2).

Đối với thửa 501 qua kiểm tra, xác minh theo bản đồ, sổ mục kê năm 2003 thể

hiện, tại tờ bản đồ số 05 đo đạc năm 2003 thửa đất có diện tích là 381,9m2 là loại đất thổ cư, do ông Nguyễn Hà L2 (đã chết) là chủ sở hữu. Hiện nay trên thửa đất xây dựng 01 ngôi nhà ở 02 tầng. Trên căn nhà có 01 hộ gia đình đang sinh sống, gồm có 04 nhân khẩu, cụ thể: Đinh Văn Tưởng 1962 (chủ hộ), Nguyễn Thị Y 1966 (con gái cụ Nguyễn Hà L2), Đinh Thị Bách T7 1995 (con), Đinh Thị Thùy D 1992 (con), có HKTT tại xóm chợ - Đ - H - Ứ - Hà Nội.

Kết quả xem xét, thẩm định ngày 21/12/2023 thể hiện: thửa đất 499 có diện

tích đo đạc theo hiện trạng sử dụng thực tế là 398,7m2; thửa đất 501 có diện tích đo đạc theo hiện trạng sử dụng thực tế là 376,3m2. Trên toàn bộ diện tích thửa đất 499 được xây dựng 06 công trình, gồm có (lần lượt theo hướng đi từ V đi Hồ N): Nhà số 01 hiện đang do gia đình anh Nguyễn Hà T1, chị Nguyễn Thị L quản lý, sử dụng, theo anh T1 cung cấp tầng 1 xây khoảng năm 2014, tầng 2 xây khoảng năm 2022, tầng 01 mái bằng bê tông cốt thép, tầng 02 mái lợp tôn có hệ khung thép, phía ngoài tầng 01 giáp hành lang giao thông và hành lang bảo vệ đê là 01 gian nhà tạm bán mái lợp tôn xây tường 220 xây dựng khoảng năm 2018, gian này hiện chị L đang mở bán thuốc, ngoài cùng có 01 mái vẩy lợp tôn bao gồm hệ khung thép đỡ; Nhà số 02 hiện do ông Nguyễn Hà Quang D1 quản lý,sử dụng, ông Q1 không tham dự buổi định giá nên nhà khóa cửa, Hội đồng quan sát từ bên ngoài để xem xét thẩm định. Theo tài liệu trong hồ sơ ngôi nhà này xây dựng khoảng năm 2013, nhà cao 02 tầng, mái bằng bê tông cốt thép, trên lợp tôn, phía ngoài có gian bán mái, tường xây 220, mái lợp tôn, mái vẩy lợp tôn có hệ khung thép đỡ; Nhà số 03 hiện do ông Nguyễn Hà H2 quản lý, sử dụng bán hàng tạp hóa, túi ni lông, ... tầng 01 xây khoảng năm 2000,mái bê tông cốt thép, tầng 02 xây khoảng tháng 8/2023, mái lợp tôn có hệ khung thép đỡ ốp thân nhựa; khu gác lửng nằm giữa tầng 01 và 02, bê tông cốt thép, xây tháng 8/2023, gian bán mái lợp tôn có hệ khung thép đỡ, tường xây 220, mái vẩy lợp tôn có hệ khung thép đỡ; Nhà số 04, 05 và 06 là 03 kiot hiện so vợ con ông Nguyễn Hà M1, ông Nguyễn Hà P và ông Nguyễn Hà V quản lý cho thuê bán hàng trong ngày, theo anh Nguyễn Hà H2 cung cấp 03 kiot này xây khoảng năm 2003, nhà 01 tầng tường 110 bổ trụ, mái lợp ngói, nền lát gạch ceramic, nhà có khu phụ, mái vẩy lợp tôn có hệ khung thép đỡ. Trên thửa đất 501: về phía T của thửa đất có 01 ngôi nhà 02 tầng, trên lợp mái tôn xây năm 2010, liền kề bên cạnh là 01 ngôi nhà 01 tầng, tường xây 220 mái lợp proximang, nền lát gạch ceramic năm 1983. Mái vẩy lợp tôn khung thép đỡ, mái vẩy phía trước nhà 02 tầng lợp tôn khung thép đỡ, sân lát gạch đỏ 30x30, 01bể nước, 01 cổng hoa sắt, ngoài ra trên đất còn có các cây như: 24 cây cau lấy quả >5m, 01 cây vú sữa đường kính 10cm, 01 cây xoài đường kính 15cm, 01 cây xoan đường kính 38cm, trên đất có 01 ngôi mộ (03 bia đá), 01 cây ngọc lan đường kính 30cm.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 02/4/2024 của Tòa án nhân

dân huyện U, Thành phố Hà Nội đã xử:

[I] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Nguyễn Thùy H.

1- Xác định di sản thừa kế của cụ Nguyễn Hà L2 và cụ Dương Thị T8 để lại và

được xem xét chia trong vụ án này là: (tài sản 01) quyền sử dụng đất đối với thửa đất 499, tờ bản đồ số 26, bản đồ VLAP 2013, diện tích 345m2 (diện tích hiện trạng 398,7m2), loại đất ở tại nông thôn tọa lạc ở tại xóm A thôn Đ, xã H, huyện U, thành phố Hà Nội; (tài sản 02) quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 501, tờ bản đồ 05, diện tích 381,9m2 (diện tích hiện trạng 376,3m2), đất ở, GCNQSDĐ số AE 262214 do UBND huyện U cấp cho ông Nguyễn Hà L2 ngày 24/10/2006, vào sổ cấp GCNQSDĐ 00941/ƯH tọa lạc ở tại xóm A thôn Đ, xã H, huyện U, thành phố Hà Nội.

2- Xác định cụ Nguyễn Hà L2 và cụ Dương Thị T8 trước khi chết có để lại di

chúc là Biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 21/02/2002 và Biên bản chia đất ngày 02/11/2006 phân chia di sản thừa kế cho các con gồm: ông Nguyễn Hà B1, ông Nguyễn Hà M1, ông Nguyễn Hà P, ông Nguyễn Hà V, ông Nguyễn Hà Q1, ông Nguyễn Hà H2, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thùy H và bà Nguyễn Thị H3. Anh Nguyễn Quốc T3 và chị Nguyễn Thị Thu T4 là thừa kế thế vị đối với kỉ phần thừa kế của ông Nguyễn Hà M1 được hưởng; anh Nguyễn Hà T1 và chị Nguyễn Thị L là thừa kế chuyển tiếp đối với kỉ phần thừa kế của ông Nguyễn Hà B1 được hưởng.

3- Công nhận thỏa thuận đổi đất giữa ông Nguyễn Hà Q1, ông Nguyễn Hà P, ông

Nguyễn Hà B1 và bà Nguyễn Thùy H theo nội dung vi bằng 978/2023/VB-TPLQNTL ngày 31/7/2023 của Văn phòng Thừa phát lại quận N.

4- Ghi nhận bà Nguyễn Thùy H đóng góp 03 phần, ông Nguyễn Hà P đóng góp

01 phần công sức vào việc xây dựng, tôn tạo ngôi nhà 02 tầng trên phần đất thứ hai được chia cho ông Nguyễn Hà Q1 theo biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 21/02/2002, sau này đã được đổi cho ông Nguyễn Hà P, cụ thể: của bà H là 155.505.000đồng; của ông P là 51.835.000đồng.

[II] Chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Hà L2 và cụ Dương Thị T8, cụ thể: 1-

Phân chia quyền sử dụng đất đối với thửa đất 499, tờ bản đồ số 26, bản đồ VLAP 2013, diện tích 345m2 (diện tích hiện trạng 398,7m2), loại đất ở tại nông thôn tọa lạc tại xóm A thôn Đ, xã H, huyện U, thành phố Hà Nội như sau: (theo hướng đi từ H - Hồ N) thửa đất được chia làm 06 phần, cụ thể:

- Phần thứ nhất được chia cho anh Nguyễn Hà T1 và chị Nguyễn Thị L được

đồng sở hữu, có diện tích 55,0m2, có giá trị 1.375.000.000đồng, được giới hạn bởi các điểm 1-2-23-19-20-21-22-1; Anh T2 và chị L được đồng sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc phần diện tích đất được chia này.

- Phần đất thứ hai được chia cho bà Nguyễn Thùy H, có diện tích 53,9m2 có giá

trị 1.347.500.000đồng, được giới hạn bởi các điểm 2-3-24-23-2; Bà H được toàn quyền sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc phần diện tích đất được chia này.

- Phần thứ ba được chia cho ông Nguyễn Hà H2 có diện tích 52,2m2, có giá trị

1.305.000.000 đồng, được giới hạn bởi các điểm 3-4-25-24-3; Ông H2 được toàn quyền sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc phần diện tích đất được chia này.

- Phần thứ tư được chia cho anh Nguyễn Quốc T3 và chị Nguyễn Thị Thu T4

đồng sở hữu có diện tích 36,3m2, có giá trị 907.500.000đồng, được giới hạn bởi các điểm 4-5-26-25-4; Anh T3 và chị T4 được đồng sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc phần diện tích đất được chia này.

- Phần thứ năm được chia cho ông Nguyễn Hà Q1 có diện tích 39,1m2, có giá trị

977.500.000 đồng, được giới hạn bởi các điểm 5-6-27-26-5; Ông Q1 được toàn quyền sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc phần diện tích đất được chia này.

- Phần thứ sáu được chia cho ông Nguyễn Hà V có diện tích 37,3m2, có giá trị

932.500.000 đồng, được giới hạn bởi các điểm 6-7-8-27-6; Ông V được toàn quyền sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc phần diện tích đất được chia này.

2- Phân chia quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 501, tờ bản đồ 05, diện tích

381,9m2 (diện tích hiện trạng 376,3m2), đất ở, GCNQSDĐ số AE 262214 do UBND huyện U cấp cho ông Nguyễn Hà L2 ngày 24/10/2006, vào sổ cấp GCNQSDĐ 00941/ƯH tọa lạc tại xóm A thôn Đ, xã H, huyện U, thành phố Hà Nội, như sau: (Theo hướng đầu ngõ X xuôi xuống), thửa đất được chia làm 04 phần, cụ thể:

- Phần thứ nhất (trên đất có ngôi nhà 02 tầng cùng các tài sản khác gắn liền với

đất) chia cho bà Nguyễn Thị Y, có diện tích 80,7m2, có giá trị 1.049.100.000đồng, được giới hạn bởi các điểm 1-2-18-17-15-1.

- Phần thứ hai (trên đất có gian nhà cấp 4 và riêng phần mộ có diện tích 3,96m2)

được chia cho ông Nguyễn Hà P có diện tích 103,49m2, có giá trị 1.345.370.000 đồng, được giới hạn bởi các điểm 2-3-20-19-12-13-14-16-17-18-2.

- Phần thứ ba (trên đất có một phần của gian nhà cấp 4) được chia cho bà Nguyễn

Thị H3 có diện tích 94,075m2, có giá trị 1.222.975.000 đồng, được giới hạn bởi các điểm 3-4-22-21-11-12-19-20-3.

- Phần thứ tư (trên đất có gian nhỏ lợp tôn) được chia cho bà Nguyễn Thị H1 có

diện tích 94,075m2, có giá trị 1.222.975.000 đồng, được giới hạn bởi các điểm 4-5-6-7-8-9-10-11-21-22-4.

(Kèm theo bản án này có sơ đồ, bảng kê tọa độ phân chia xác định giới hạn bởi

các cạnh, điểm vị trí diện tích đất của từng phần được chia cho các con, cháu cụ L2, cụ T8).

3- Buộc bà Nguyễn Thùy H có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Hà P số

tiền 53.965.000đồng (năm mươi ba triệu, chín trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

* Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi

thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

4- Trong thời hạn 30 ngày - kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, buộc ông

Nguyễn Hà P và chị Nguyễn Thị M chấm dứt hợp đồng thuê nhà để bàn giao toàn bộ diện tích nhà đất cùng tài sản khác gắn liền với đất cho ông Nguyễn Hà Q1 tại phần đất thứ năm của thửa đất số 499 như đã nêu trên.

5- Trong thời hạn 30 ngày - kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, buộc ông

Nguyễn Hà Q1 có trách nhiệm di chuyển, dọn toàn bộ đồ đạc của ông Q1 để bàn giao lại toàn bộ diện tích nhà đất cùng tài sản khác gắn liền với đất cho bà Nguyễn Thùy H tại phần đất thứ hai của thửa đất 499 như đã nêu trên.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền thi hành án, nghĩa vụ chịu án

phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

Ngày 16/4/2024, bà Nguyễn Thùy H là nguyên đơn nộp đơn kháng cáo một phần

bản án sơ thẩm liên quan đến nghĩa vụ của bà với ông Nguyễn Hà P và quyền lợi của ông Nguyễn Hà Q1.

Ngày 07/4/2024, ông Nguyễn Hà P nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 07/5/2024, bà Nguyễn Thị Thu T4 nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ

thẩm yêu cầu làm rõ ranh giới thửa đất và diện tích đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình bà.

Ngày 17/4/2024, bà Nguyễn Thị H1 nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 15/4/2024, ông Nguyễn Hà Q1 nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm

yêu cầu Tòa án xem xét buộc bà Nguyễn Thùy H trả lại quyền sở hữu và sử dụng đất bố ông để lại và tài sản đứng tên sở hữu của ông.

Ngày 24/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội kháng nghị toàn bộ

bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

Quá trình tố tụng tại cấp phúc thẩm:

*Về diện tích đất tăng thêm tại thửa đất số 499: Tại công văn số 98/CV-UBND

ngày 20/8/2024 của UBND xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội có nội dung:

Ngày 19/8/2024, UBND xã H nhận được công văn số: 393/2024/TA-DS về

việc cung cấp thông tin. Sau khi xem xét nội dung công văn, UBND xã H, huyện U, TP . xin trả lời Tòa án nhân dân TP. Hà Nội như sau:

Theo bản đồ, sổ mục kê năm 2013:

Thửa đất đề nghị cung cấp thông tin là thửa đất số 499, tờ bản đồ số 26 đo đạc

năm 2013, diện tích 345.0 m2; Mục kê đứng tên ông Nguyễn Hòa L3; Mục đích sử dụng đất: Đất ở tại nông thôn

Vị trí thửa đất xóm A, thôn Đ, xã H, huyện U, thành phố Hà Nội. Có các cạnh

giáp ranh như sau:

- Phía Tây Nam giáp đường Quốc lộ 21B;

- Phía Tây Bắc giáp ngõ X, thôn Đ;

- Phía Đông Bắc giáp đất nhà ông Đinh Văn B6;

- Phía Đông Nam giáp đất nhà bà Đinh Thị N;

Diện tích nêu trên là phần diện tích đất hợp pháp của gia đình ông L3. Tuy nhiên,

theo kết quả đo đạc hiện trạng thì diện tích thửa đất lại là 398,7m2 có phần diện tích tăng lên là 53,7m2. Nguồn gốc phần diện tích đất tăng 53,7m2 của gia đình ông L3 và các con sử dụng thuộc đất công do UBND xã H quản lý (phần đất này nằm trong phạm vi bảo vệ đê điều). Do là đất công và lại vi phạm quy hoạch nên phần đất này không đủ điều kiện được công nhận quyền sử dụng đất.

- Tình trạng tranh chấp: Đối với thửa đất số 499, tờ bản đồ số 26 nêu trên không

có tranh chấp với các hộ liền kề.

Trên đây là nội dung phúc đáp văn bản số: 393/2024/TA-DS của Tòa án nhân

dân thành phố Hà Nội về việc cung cấp thông tin đối với thửa đất số 499, tờ bản đồ số 26.

*Về ngôi mộ nằm trên thửa đất số 501:

Qua xem xét thực tế và lời trình bày của bà Y: Trên thửa đất số 501 hiện bà Y

đang quản lý, sử dụng có 01 ngôi mộ, có bia mộ, kích thước 1.6m x 1.35m nằm ở phía sau nhà trên phần diện tích đất mà bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện U chia cho ông P.

Bà Y trình bày: Ngôi mộ này có từ khi nào bà không nắm được vì từ bé bà sinh

ra đã có. Nguồn gốc ngôi mộ là của chú ruột bà Y. Ngoài ra, bà Y không trình bày gì khác.

Tại biên bản xác minh ngày 01/8/2024, UBND xã H cung cấp:

Qua việc TAND TP. Hà Nội trao đổi với bà Nguyễn Thị Y là người có quyền

lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 224/2024/TLPT – DS ngày 19/6/2024, UBND xã H, huyện U, huyện U, TP . cung cấp như sau:

Ngôi mộ có kích thước 1.6m x 1.35m nằm trong thửa đất số 501, tờ bản đồ số

05, thôn Đ, xã H, huyện U, thành phố Hà Nội.

Về nguồn gốc ngôi mộ: UBND xã H, huyện U không nắm được.

Hiện ngôi mộ nằm trong thửa đất số 501 nên UBND xã H, huyện U không có

chủ trương di rời. Ngoài ra, UBND xã H không cung cấp thông tin gì khác.

* Về hành lang bảo vệ đê:

Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nhận được công văn số 117/QLĐS15 của

H11 và phòng, chống thiên tai Hà Nội Hạt quản lý đê số A5 về việc cung cấp thông tin liên quan đến vụ án dân sự “tranh chấp thừa kế tài sản” trên địa bản xã H. Căn cứ công văn số 350/2024/TA-DS ngày 08/8/2024 của TAND thành phố Hà Nội về việc cung cấp thông tin liên quan đến tranh chấp về thừa kế tài sản. Thực hiện văn bản số 2346/TLPCTT-ĐĐ ngày 07/12/2023 về việc phúc đáp văn bản số 1110/2023/CV-TA ngày 01/12/2023 của TAND huyện U của chi cục H11 và Phòng, chống thiên tai. Trong vụ án tranh chấp mà Tòa án nhân dân Hà Nội đang giải quyết tranh chấp liên quan đến thửa đất số 499, tờ bản đồ số 26 thuộc địa phận thôn Đ, xã H, huyện U, thành phố Hà Nội (mặt đường quốc lộ 21B), có liên quan đến hành lang bảo vệ đê điều do Hạt Quản lý đê số 15 (trước đây là Hạt Quản lý đê Ứ - M) đang quản lý. Về việc này Hạt Quản lý đề số 15 cung cấp một số thông tin như sau:

“…Triển khai thực hiện Luật Đê điều, Quyết định số 1821/SĐ-TTg ngày

07/10/2014 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Quy hoạch phòng lũ và đê điều hệ thông song Đáy. Ngày 10/4/2018, UBND thành phố đã có văn bản số 2322/UBND – KH&ĐT giao Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn triển khai dự án: Cắm mốc chỉ giới hành lang bảo vệ đê điều sông Đ. Hiện nay, dự án đã hoàn thành việc triển khai cắm mốc ngoài hiện trường, trong đó có địa bàn xã H, huyện U.

Vị trí thửa đất số 499, tờ bản đồ số 26 hiện đang tranh chấp nêu trên tại vị trí

Km71+361 hạ lưu đê tả Đáy (nằm trong khu dân cư), theo đó hành lang bảo vệ đê diều được tính từ chân để trở ra 5m. Phạm vi bảo vệ đê được xác định bởi các mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ đê: TD-HL 790(X 578735.174; Y2287801); TD-HL 791 (X578798.395; Y2287750).

Ngoài thông tin nêu trên, Hạt Quản lý đêv số 15 không còn tài liệu, chứng cứ,

thông tin nào khác để cung cấp cho Tòa án. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật...”.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đương sự không rút đơn khởi kiện, đơn kháng cáo, không thỏa thuận được với

nhau về việc giải quyết vụ án, không xuất trình chứng cứ mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội trình bày quyết định kháng

nghị số 03/QĐ-VKS-DS ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thùy H là

Luật sư T trình bày bản luận cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H8; Luật sư T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm số 06 của Tòa án nhân dân huyện U xử mà bà Nguyễn Thùy H không kháng cáo, không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại quyết định kháng nghị số 03 và kháng cáo của bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Hà Q1, ông Nguyễn Hà P. T14 chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thùy H và sửa phần bản án sơ thẩm số 06 mà bà H kháng cáo theo hướng bà H không có nghĩa vụ thanh toán số tiền 53.965.000 đồng cho ông Nguyễn Hà P. Tuyên ông Nguyễn Hà Q1 không được quyền hưởng di sản của cụ T8 và cụ L3 theo quy định của pháp luật. Phần đất và tài sản trên đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của 09 người thừa kế còn lại.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà nguyễn Thùy H là ông Lê Tuấn

Q và ông Phạm Trường G thống nhất với ý kiến trình bày của Luật sư T.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh

Nguyễn Hà Duy A1 là ông Lê Tuấn Q thống nhất với ý kiến trình bày của Luật sư T.

Bị đơn anh Nguyễn Hà T1 trình bày: Anh đề nghị Hội đồng xét xử làm rõ sự

việc ông B1 và ông P đã đổi 1m mặt tiền đất cho nhau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan ông Nguyễn Hà P và ông Nguyễn Hà Q1 là Luật sư Lê Ngọc A trình bày bản luận cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông P và ông Q1; Luật sư Anh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 500 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 168 Luật đất đai năm 2013 tuyên sửa bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 02/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện U theo hướng giữ nguyên việc giao quyền sử dụng đất và chia đất theo Biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 02/11/2022 và Biên bản phân chia quyền sử dụng đất ngày 02/11/2006 của cụ Nguyễn Hà L2 và cụ Dương Thị T8; Do các thỏa thuận đổi đất đều vô hiệu nên các bên trả cho nhau những gì đã nhận. Bác kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyên Thùy H9 đối với yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Hà L2 và cụ Dương Thị T8. Tuyên vô hiệu đối với các thỏa thuận đổi đất giữa ông Nguyễn Hà Q1, ông Nguyễn Hà P, ông Nguyễn Hà B1 và bà Nguyễn Thùy H.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan ông Nguyễn Hà P là Luật sư Nguyễn Khắc B trình bày bản luận cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông P; Luật sư B đề nghị sửa bản án dân sự sơ thẩm giư nguyên việc giao quyền sử dụng đất và chia đất theo Biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 21/2/2002 và Biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 02/11/2006 của cụ Nguyễn Hà L2 và cụ Dương Thị T8. Các thỏa thuận khác cùng vi bằng số 978/2023/VB-TPLQNTL ngày 31/7/2023 của Văn phòng T tuyên vô hiệu, các bên trả lại cho nhau những gì đã nhận. Miễn toàn bộ án phí cho ông Nguyễn Hà P, ông P đã có đơn gửi cấp phúc thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Hà P và ông Nguyễn Hà

Q1 thống nhất với ý kiến trình bày của Luật sư Ngọc A và Luật sự B.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Bà đề

nghị Hội đồng xét xử xem xét giữ nguyên sự phân chia đất của bố mẹ bà là cụ Nguyễn Hà L2 và cụ Dương Thị T8 tại các Biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 02/11/2022 và Biên bản phân chia quyền sử dụng đất ngày 02/11/2006.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Quốc T3 trình bày theo

đơn kháng cáo ngày 03/5/2024 chỉ có mình chị Nguyễn Thị Thu T4 ký tên còn anh T3 không ký tên. Anh T3 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giữ nguyên sự phân chia đất của ông bà anh là cụ Nguyễn Hà L2 và cụ Dương Thị T8 tại các Biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 02/11/2022 và Biên bản phân chia quyền sử dụng đất ngày 02/11/2006.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Thu T4 trình bày: Chị

T4 có đơn kháng cáo ngày 03/5/2024, chị T4 đã nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí nhưng chị T4 không nộp vì đường xá xa xôi. Chị T4 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giữ nguyên sự phân chia đất của ông bà chị T4 là cụ Nguyễn Hà L2 và cụ Dương Thị T8 tại các Biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 02/11/2022 và Biên bản phân chia quyền sử dụng đất ngày 02/11/2006.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu

ý kiến:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của

Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án Đại diện Viện kiểm sát nhân dân

thành phố Hà Nội rút một phần kháng nghị tại quyết định kháng nghị số 03/QĐ-VKS-DS ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội. Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 02/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện U.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án trên

cơ sở thẩm tra, xem xét tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời khai của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy:

. Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Thùy H khởi kiện anh Nguyễn Hà T1 và chị

Nguyễn Thị L yêu cầu chia di sản của bố mẹ bà là cụ Nguyễn Hà L2 và cụ Dương Thị T8 để lại theo di chúc và công nhận quyền sở hữu đối với công trình xây dựng và tài sản gắn liền với đất. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là Tranh chấp thừa kế tài sản và công nhận quyền sở hữu đối với các công trình xây dựng và tài sản gắn liền trên đất.

Về thẩm quyền: Bị đơn có địa chỉ tại: Thôn Đ, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội

nên căn cứ Khoản 2, Khoản 5 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013, Tòa án nhân dân huyện U, thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm là có căn cứ.

Về yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngày 28/3/2022,

ông Nguyễn Hà Q1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu độc lập. Hội đồng xét xử xét thấy ngày 15/01/2024, Tòa án cấp sơ thẩm có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:

“… Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập

trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải…”.

Như vậy đơn yêu cầu độc lập của ông Q1 đã gửi sau khi Tòa án cấp sơ thẩm có

quyết định đưa vụ án ra xét xử nên Tòa án cấp sơ thẩm không thụ lý xem xét yêu cầu độc lập của ông Q1 là có căn cứ.

Về yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn

Thị Thu T4 và anh Nguyễn Quốc T3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có làm đơn kháng cáo ngày 03/5/2024 nhưng tại đơn kháng cáo chỉ có chị T4 ký đơn kháng cáo. Tòa án cấp sơ thẩm đã ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho chị T4 nhưng chị T4 không nộp nên Hội đồng xét xử xem xét đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của chị T4.

Tại phiên tòa sơ thẩm, một số đương sự vắng mặt, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ

vào các quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt những đương sự này là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, một số đương sự vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ các

quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt những đương sự này.

. Về hình thức:

Ngày 02/4/2024, Tòa án nhân dân huyện U xét xử sơ thẩm và tuyên án. Những

người kháng cáo là bà H, bà H1, ông Q1 có mặt tại phiên tòa; ông P, bà T4 vắng mặt tại phiên tòa; ngày 17/4/2024,ông P nhận được bản án sơ thẩm; ngày 19/4/2024, bà T4 nhận được bản án sơ thẩm. Do đó các đương sự nộp đơn kháng cáo là trong thời hạn quy định tại Khoản 1 điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Bà H, ông Q1, ông P, bà H1 đã nộp tạm ứng án phí kháng cáo nên kháng cáo của các đương sự hợp lệ về hình thức là hợp lệ, vụ án được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Ngày 24/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội có quyết định kháng

nghị toàn bộ bản án sơ thẩm là trong thời hạn kháng nghị.

Về nội dung:

3.1. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội.

3.1.1. Về yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của nguyên đơn bà Nguyễn Thùy H.

Về thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế: Nguyên đơn bà Nguyễn Thùy H khởi

kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ bà để lại là cụ Nguyễn Hà L2 và cụ Dương Thị T8 theo di chúc và công nhận quyền sở hữu đối với công trình xây dựng và tài sản gắn liền trên đất. Cụ L2 chết năm 2013, cụ T8 chết năm 2020. Ngày 25/10/2023, bà H làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhân dân huyện U, thành phố Hà Nội, căn cứ Khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc khởi kiện của nguyên đơn là còn thời hiệu.

Về mối quan hệ gia đình, hàng thừa kế: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong

hồ sơ và các lời trình bày của đương sự thể hiện cụ Nguyễn Hà L2, sinh năm 1924, chết ngày 02/6/2013 và cụ Dương Thị T8 sinh năm 1933, chết ngày 07/01/2020; các cụ có 10 người con gồm:

Ông Nguyễn Hà B1, sinh năm 1955; ông Nguyễn Hà M1, sinh năm 1957; bà

Nguyễn Thị H1, sinh năm 1958; ông Nguyễn Hà P, sinh năm 1960; ông Nguyễn Hà V, sinh năm 1963; bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1966; ông Nguyễn Hà Q1, sinh năm 1968; bà Nguyễn Thùy H, sinh năm 1970; ông Nguyễn Hà H2, sinh năm 1971; bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1975.

Ông Nguyễn Hà B1, chết năm 2022. Ông B1 có địa chỉ ở: thôn Đ, xã H, huyện

U, thành phố Hà Nội. Ông B1 có vợ là bà Nguyễn Thị T9, chết trước ông B1. Ông B1 và bà T9 có 02 người con: Anh Nguyễn Hà T1 và chị Nguyễn Thị L.

Ông Nguyễn Hà M1, chết trước cụ L2 và cụ T8. Có vợ là bà Nguyễn Thị Y1.

Ông M1 và bà Y1 có 02 con: Anh Nguyễn Quốc T3 (tên gọi khác: Nguyễn Hà T10) và chị Nguyễn Thị Thu T4.

Do ông B1 chết sau cụ L2 và cụ T8; bà T9 là vợ ông B1 lại chết trước ông B1

nên phát sinh thừa kế chuyển tiếp, theo đó anh Nguyễn Hà T1 và chị Nguyễn Thị L là thừa kế chuyển tiếp của ông B1 đối với phần di sản của cụ L2 và cụ T8;

Do ông M1 chết trước cụ L2 và cụ T8 nên phát sinh thừa kế thế vị, theo đó anh

Nguyễn Quốc T3 và chị Nguyễn Thị Thu T4 là thừa kế thế vị của ông M1 đối với phần di sản của cụ L2 và cụ T8.

Về nguồn gốc, diện tích đất tranh chấp và di sản thừa kế: Các đương sự đều thừa

nhận thửa đất 499, tờ bản đồ số 26, bản đồ VLAP 2013, diện tích 345m2 (diện tích hiện trạng 398,7m2), loại đất ở tại nông thôn tọa lạc ở tại xóm A thôn Đ, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội; thửa đất số 501, tờ bản đồ 05, diện tích 381,9m2 (diện tích hiện trạng 376,3m2), đất ở, GCNQSDĐ số AE 262214 do UBND huyện U cấp cho ông Nguyễn Hà L2 ngày 24/10/2006, vào sổ cấp GCNQSDĐ 00941/ƯH tọa lạc ở tại xóm A thôn Đ, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội là tài sản của cụ L2 và cụ T8 khi còn sống. Các đương sự đều thừa nhận khi còn sống cụ L2 và cụ T8 đã chia 02 thửa đất trên cho 10 người con. Cụ thể chia thửa 501 cho 4 cô con gái và chia thửa 499 cho 6 anh con trai, việc cho đất này có được lập biên bản thể hiện ở Biên bản giao quyền sử dụng đất 21/02/2002 và Biên bản chia đất ngày 02/11/2006.

Biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 21/02/2002 thể hiện:

“…Hôm nay, ngày 21 tháng 02 năm 2002

Tại gia đình tôi: Nguyễn Hà L2 – Thôn Đ, xã H, huyện U, tỉnh Hà Tây.

Chúng tôi gồm có:

1.Nguyễn Hà L2 – sinh năm 1924

2.Dương Thị T8 - sinh năm 1933

3.Nguyễn Hà B1 (là con)

4.Nguyễn Hà P (là con)

5.Nguyễn Hà V (là con)

6.Nguyễn Hà H2 (là con)

7.Nguyễn Hà Q1 (là con)

8. Nguyễn Hà M1 (là con)

Ngươi làm chứng: Nguyễn Hà C.

Gia đình tôi có diện tích đất như sau:

- Phía Tây Bắc: Giáp ngõ 11 có chiều dài: 17m

- Phía Đông Nam: Giáp nhà Đinh Thị N có chiều dài: 17m

- Phía Đông Bắc: Giáp nhà Đinh Văn B7 có chiều dài: 25.1 m

- Phía Tây Nam: Giáp Quốc lộ B có chiều dài: 26.55 m

Tổng diện tích là: 440m2

Vợ chồng tôi nay tuổi cao, vậy giao quyền sử dụng lô đất trên cho 6 người con

trai được phân chia như sau:

1/ Con trai cả: Nguyễn Hà Bình

- Phía Tây Nam:Giáp đường 21B:dài 6.85m

- Phía T:G:dài 17m

- Phía Đông Nam:Giáp Nguyễn Hà Q1 :dài 17m

- Phía Đông Bắc:Giáp Đinh Văn B6:dài 6 m

Tổng diện tích

: 109m2 2/ Con trai: Nguyễn Hà Quang

- Phía Tây Bắc:Giáp Nguyễn Hà B1:dài 17m

- Phía Tây Nam:Giáp đường 21B:dài 4.5m

- Phía Đông Nam:Giáp Nguyễn Hà H2 :dài 17m

- Phía Đông Bắc:Giáp Đinh Văn B6:dài 4 m

Tổng diện tích

: 72m2 3/ Con trai Nguyễn Hà H2

- Phía T:Giáp Nguyễn Hà Q1:dài 17m

- Phía Tây Nam:Giáp đường 21B:dài 4.6m

- Phía Đông Nam:Giáp Nguyễn Hà M1 :dài 17m

- Phía Đông Bắc:Giáp Đinh Văn B6:dài 4.6 m

Tổng diện tích

: 78m2 4/ Con trai Nguyễn Hà Minh

- Phía Tây Bắc:Giáp Nguyễn Hà H2:dài 17m

- Phía Tây Nam:Giáp đường 21B:dài 3.5m

- Phía Đông Nam:Giáp Nguyễn Hà P :dài 17m

- Phía Đông Bắc:Giáp Đinh Văn B6:dài 3.5m

Tổng diện tích

: 59.5m2 5/ Con trai Nguyễn Hà Phúc

- Phía Tây Bắc:Giáp Nguyễn Hà M1:dài 17m

- Phía Tây Nam:Giáp đường 21B:dài 3.5m

- Phía Đông Nam:Giáp Nguyễn Hà V :dài 17m

- Phía Đông Bắc:Giáp Đinh Văn B6:dài 3.5m

Tổng diện tích

: 59.5m2 6/ Con trai Nguyễn Hà V

- Phía T:Giáp Nguyễn Hà P:dài 17m

- Phía Tây Nam:Giáp đường 21B:dài 3.5m

- Phía Đông Nam:Giáp Đinh Thị N

:dài 17m

- Phía Đông Bắc:Giáp Đinh Văn B6:dài 3.5m

Tổng diện tích

: 59.5m2 Tổng diện tích trên đem chia cho từng người với điều kiện các con để sử dụng không được nhượng lại cho người ngoài trong lúc chúng tôi con sống, sau này ai gặp khó khăn chỉ được phép nhượng lại cho nội bộ trong gia đình. Nếu nội bộ không giải quyết được mới được phép nhượng lại cho người ngoài, ngoài ra 4 lô đất của những người sau: 1.Nguyễn Hà P2. Nguyễn Hà Q1 2.Nguyễn Hà V1

4. Nguễn Hà Minh Cả 4 người lúc này còn đang đi vắng chưa sử dụng đến giao cho vợ chồng chúng tôi trông nom giúp đến khi chúng tôi khuất mới sử dụng, hai lô đất của hai anh. 1.Nguyễn Hà B1 2.Nguyễn Hà H2 Được phép sử dụng nhưng không được phép nhượng cho người ngoài. Riêng anh Nguyễn Hà B1 lẽ ra chỉ được chia 4.5m mặt đường 21B, nhưng vì là con trưởng nên tôi chia thêm đủ thành 6.85m để lo hương khói thờ tổ tiên, không được phép nhượng lại. Văn bản này được thông qua mọi người trong gia đình và có người chứng kiến, mọi người đều nhất trí, văn bản có hiệu lực kể từ ngày ký…”. Biên bản này có chữ ký cụ của cụ Nguyễn Hà L2, cụ Dương Thị T8, người chứng kiến ông Nguyễn Hà C và có xác nhận của UBND xã H. Biên bản chia đất cho các con ngày 02/11/2006 thể hiện: “…Hôm nay ngày 02/11/2006 tức ngày 12/9 (Bính Tuất) tại gia đình tôi xóm A thôn Đ, xã H, huyện U, tỉnh Hà tây. Tôi là: Nguyễn Hà L2 83 tuổi Vợ tôi: Dương Thị T8 78 tuổi Trú quán: Xóm T, thôn Đ, xã H, huyện U, tỉnh Hà Tây. Vợ chồng tôi có diện tích đất ở là: 381.9 m2 ở xóm T thôn Đ xã H. Nay vì tuổi cao nên tôi và vợ tôi thống nhất chia diện tích đất nói trên cho bốn con của tôi là: 1.Nguyễn Thị H1 được sử dụng DT đất là: 95.47m2 (chín năm mét bốn bảy)

2.Nguyễn Thị Y được sử dụng DT đất là 95.47m2 (chín năm mét bốn bảy)

3.Nguyễn Thị H10 được sử dụng DT đất là 95.47m2 (chín năm mét bốn bảy)

4.Nguyễn Thị H3 được sử dụng DT đất là 95.47m2 (chín năm mét bốn bảy)

Vị trí đất cụ thể của từng người (các con thống nhất vị trí cho nhau hợp tình, hợp

lý, thuận tiện cho việc đi lại) Kể từ ngày hôm nay 02/11/2006 (12/9 Bính Tuất) các con được quyền sử dụng DT đất nói trên và có trách nhiệm đóng góp các khoản thuế nhà đất với nhà nước. Biên bản lập xong được thông qua mọi người nhất trí…”. Biên bản này có chứ ký của cụ Nguyễn Hà L2, xác nhận của địa chính xã ông Bùi C2, xác nhận chữ ký của UBND xã H. Quá trình quản lý sử dụng các diện tích đất đã được phân chia: * Đối với thửa đất 501, cụ L2 và cụ T8 chia cho 04 cô con gái theo thứ tự (theo hướng đầu ngõ X Đ đi xuống) phần đất thứ nhất cho Nguyễn Thị H3, phần đất thứ hai cho Nguyễn Thị Y, phần đất thứ ba cho Nguyễn Thùy H, phần đất thứ tư cho Nguyễn Thị H1. Mỗi người đều được phần diện tích bằng nhau là 95,47m2, chiều rộng mặt tiền là 3,75m. Khi các cụ còn sống, bà Y đã xây nhà kiên cố trên 01 phần diện tích đất của thửa 501 và xây vào phần đất được chia cho bà Nguyễn Thị H3, diện tích nhà bà Y xây dựng rộng hơn diện tích được hai cụ chia cho theo biên bản chia đất ngày 02/11/2006, nhưng cụ L2, cụ T8 cùng các người con còn lại đều biết và đều không ai có ý kiến phản đối việc xây dựng của bà Y.

* Đối với thửa đất 499, cụ L2 và cụ T8 chia cho 06 anh con trai theo thứ tự

(theo hướng H đi Hồ N):

Phần thứ nhất chia cho ông Nguyễn Hà B1, hiện nay do 2 con của ông B1 là

anh T1 và chị L quản lý, sử dụng, phần đất này có ngôi nhà 2 tầng, tầng 1 do bà H bỏ tiền ra xây dựng sau khi ông B1 đồng ý cắt thêm khoảng 1m mặt tiền cho phần đất thứ hai dưới đây (ban đầu chiều dài mặt tiền phần đất thứ nhất theo biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 21/02/2002 là 6,85m, đo đạc hiện trạng là 6,1m), tầng 2 là do anh T1 và chị L bỏ tiền ra xây dựng.

Phần thứ hai chia cho ông Nguyễn Hà Q1, hiện nay trên đất có ngôi nhà 2 tầng

do bà H và ông P cùng bỏ tiền ra xây dựng (về phần đóng góp của bà H và ông P để xây dựng ngôi nhà này sẽ được phân tích phía dưới).

Phần thứ ba chia cho ông Nguyễn Hà H2, trên đất có ngôi nhà 02 tầng (tầng

1 và gác lửng ông H2 xây, tầng 2 ông H2 mới xây sửa lại từ nguồn tiền bà H đền bù cho ông H2 là 400.000.000 đồng do ông H2 trong thời gian chăm sóc cụ Dương Thị T8 tại căn nhà ở phần đất thứ hai đã có công sửa chữa, cải tạo ngôi nhà của bà H và ông P xây dựng trước đó nhưng chưa hoàn thiện.

Phần thứ tư chia cho ông Nguyễn Hà M1 là kiot, hiện do anh Nguyễn Quốc

T3 đang quản lý và cho chị Đinh Thị Thùy D thuê bán hàng.

Phần thứ năm chia cho ông Nguyễn Hà P là kiot, hiện ông P đang quản lý và

cho người khác thuê.

Phần thứ sáu chia cho ông Nguyễn Hà V là kiot, hiện do ông V quản lý và cho

người khác thuê. Như vậy, khi cụ Nguyễn Hà L2 và cụ Dương Thị T8 còn sống, các cụ đã phân chia đất cho các con trai và con gái theo Biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 21/02/2002 và Biên bản chia đất ngày 02/11/2006, mọi người đã nhận không có ý kiến phản đối gì. Các con của cụ L2, cụ T8 đã thực hiện việc quản lý, sử dụng đất và xây dựng các công trình kiên cố trên đất từ khi các cụ còn sống cho đến trước khi các cụ mất với thời gian kéo dài. Các đương sự trong vụ án này đã cùng trình bày thống nhất với nội dung phân chia đất theo các Biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 21/02/2002 và Biên bản chia đất ngày 02/11/2006 của các cụ L2, cụ T8; bản thân bà H là nguyên đơn trong vụ án cũng trình bày thống nhất với nội dung nêu trong các biên bản. Hội đồng xét xử có căn cứ xác định Biên bản giao quyền sử dụng đất 21/02/2002 và Biên bản chia đất ngày 02/11/2006 không phải là di chúc của các cụ mà chính là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho các con theo các quy định tại các Điều 461, Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 1995 và các Điều 465, Điều 467 Bộ luật Dân sự năm 2005. Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xác định tài sản chung của cụ Nguyễn Hà L2 và cụ Dương Thị T8 đã được phân chia khi hai cụ L2, cụ T8 còn sống nên khi hai cụ chết không còn là di sản để phân chia theo di chúc như yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thùy H. 3.1.2. Về yêu cầu công nhận quyền sở hữu đối với công trình xây dựng và tài sản gắn liên trên đất của nguyên đơn bà H. Ngày 29/01/2013, ông Nguyễn Hà B1, ông Nguyễn Hà P, ông Nguyễn Hà Q1 có lập một Biên bản thỏa thuận với nội dung chủ yếu là việc đổi phần đất giữ ông Nguyễn Hà P và ông Nguyễn Hà Q1 đã được cụ Nguyễn Hà L2, cụ Dương Thị T8 phân chia cho hai ông và việc ông B1 cắt thêm 01m mặt tiền phần đất thứ nhất được chia cho ông B1 sang cho phần đất thứ hai được chia cho ông P (sau khi đổi đất cho ông Q1). Bà H là người bỏ tiền ra xây dựng tầng 01 ngôi nhà của ông B1, việc này đều đã được chính ông Q1, ông P thừa nhận nội dung Biên bản thỏa thuận là đúng ý chí của các ông và chữ ký trong biên bản đó đúng là chữ ký của các ông. Tuy ông P không có mặt tại buổi thỏa thuận nhưng qua điện thoại ông P cũng nhất trí và thể hiện ở việc sau đó ông P về quê ông P đã tự nguyện ký vào biên bản thỏa thuận này. Do đó, việc chữ ký của cụ L2 ở biên bản này cũng chỉ mang tính chất là người chứng kiến, bởi hai cụ L2 và cụ T8 đã chia đất cho các con xong thì các con có quyền đối với phần đất được chia, các cụ không còn quyền quản lý, sử dụng đất nên không cần thiết phải được sự đồng ý của cụ L2 và cụ T8 trong việc đổi đất của các con. Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm ông Nguyễn Hà Q1 đều có yêu cầu đi giám định chữ ký của cụ Nguyễn Hà L2 trong Biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này của ông Q1 không cần thiết. Sự việc đổi đất này đều được ông Q1 và ông P, sau này là anh T1 chị L là con của ông B1 cùng bà H1, bà H3, bà Y, ông H2 đều thừa nhận thông qua biên bản lời khai có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ theo thỏa thuận đó ông B1 mới cắt bớt 01m chiều dài mặt tiền phần đất thứ nhất của ông B1 được chia cho phần đất thứ hai của ông P sau khi đã đổi cho ông Q1 để hai phần có diện tích bằng nhau, đồng thời theo đó bà H cũng bù đắp cho ông B1 bằng việc bỏ tiền ra xây dựng tầng 01 ngôi nhà của ông B1 mà hiện nay anh T1 chị L đang sử dụng. Việc đổi đất đã hoang thành trên thực địa theo đúng thỏa thuận của các bên. Do đó, việc ông Q1 và ông P cho rằng việc đổi đất đó là của riêng hai ông, không liên quan gì đến bà H và nay hai ông không muốn đổi nữa, của ai trả về phần của người đó là không có căn cứ. Ông Q1 cũng cho rằng việc đổi đất đó, cụ thể là Biên bản thỏa thuận ngày 29/01/2013 không được công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật nên không có giá trị, tuy nhiên về thực tế đã có sự bàn giao đất

- ông P đã nhận phần đất thứ hai của ông Q1 được chia và cùng bà H bỏ tiền ra xây dựng ngôi nhà kiên cố trên đó, bà H đã bỏ tiền ra bù đắp cho ông B1 để phần diện tích đất này được rộng bằng phần diện tích đất của ông B1. Thêm nữa, sau khi xây dựng xong phần thô của ngôi nhà, được sự thống nhất của các anh em trong gia đình và thể theo nguyện vọng của cụ T8 khi đó nên ông H2 đến ngôi nhà do bà H và ông P xây dựng để chăm sóc cụ T8, ông H2 đã bỏ tiền ra hoàn thiện ngôi nhà; sau này, khi cụ T8 chết, ông H2 chuyển về sinh sống tại nhà đất của phần đất thứ ba ông H2 được bố mẹ chia cho, ông H2 bàn giao lại nhà đất tại phần đất thứ hai cho ông P và bà H, khi đó bà H là người bỏ ra 400.000.0000 đồng hỗ trợ bồi thường cho ông H2 đối với chi phí ông H2 đã bỏ ra hoàn thiện ngôi nhà trên phần đất thứ hai để về ở chăm sóc cụ T8 trước đây. Việc xây dựng ngôi nhà trên phần đất thứ hai này ông Q1 có khai tại phiên tòa là do không đồng ý đổi đất nữa nên ông Q1 có đổ bê tông trước phần đất để ngăn cản và vì sau đó ông phải đi công tác nên không có mặt ở nhà, tuy nhiên việc này không có tài liệu chứng minh; sau khi ông Q1 đi công tác về cho đến nay cũng đã 10 năm nhưng ông Q1 không có hành vi nào thể hiện sự phản đối việc bà H ông P xây nhà, ông H2 sửa sang hoàn thiện và về đó ở cùng cụ T8; trong thời gian đó ông Q1 còn có bản cam đoan ngày 20/5/2013 thể hiện việc từ chối nhận đất của bố mẹ chia cho. Tòa án cấp sơ thẩm xác định có sự việc đổi đất giữa ông Q1 và ông P, có việc ông B1 cắt bớt 01m chiều dài mặt tiền phần đất thứ nhất của ông B1 cho phần thứ hai của ông P, có việc bà H bỏ tiền ra xây dựng tầng 01 ngôi nhà của ông B1 là đúng sự thật và đều đã được các bên thực hiện xong trên thực tế là có căn cứ.

Trên cơ sở ông P đổi đất cho ông Q1, ngày 20/02/2013, bà H và ông P có lập

Biên bản thỏa thuận thống nhất phần đất của ông P sau khi đổi cho ông Q1 và cộng thêm 01m chiều dài mặt tiền phần đất thứ nhất của ông B1 cắt thêm cho gộp lại sẽ được chia đều cho hai cháu là Nguyễn Hà P1 (con ông P) và Nguyễn Hà Duy A1 (con bà H) được đồng sở hữu; phần đất bà H được chia trong thửa đất 501 cũng được chia đều cho hai cháu Nguyễn Hà P1 và Nguyễn Hà Duy A1 đồng sở hữu. Tuy nhiên việc thỏa thuận này chỉ là thỏa thuận riêng của ông P và bà H, anh P1 và anh Duy A1 chưa nhận thỏa thuận này cũng như các bên chưa tiến hành thủ tục pháp lý đối với thỏa thuận này, và thực tế cũng chưa tiến hành bàn giao.

Xét về công sức đóng góp đối với phần đất thứ hai giữa ông P và bà H. Tại biên

bản định giá ngày 21/12/2013 xác định Ngôi nhà trên phần đất thứ hai này có tổng trị giá 207.339.000 đồng. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng như các lới khai của các đương sự Hội đồng xét xử xác định ông P và bà H có công sức ngay nhau trong việc xây dựng ngôi nhà trên phần đất thứ hai và bằng 207.339.000 đồng: 2 = 103.699.500 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, tại biên bản lấy lời khai ban

đầu ông P thể hiện “đối với giá trị ngôi nhà 02 tầng, ông đề nghị tòa án giải quyết theo quy định pháp luật vì ông cũng không muốn đưa ra giá để anh chị em lại mất tình cảm”. Điều này thể hiện ông P không thiết tha được nhận lại nhà đất bằng hiện vật, và thực tế ông P cùng gia đình đang làm việc và sinh sống trên thành phố Đ từ nhiều năm, ổn định và có đăng ký thường trú tại thành phố Đ.

Anh Nguyễn Hà Duy A1 là con trai bà H, từ bé sống cùng cụ L2 và cụ T8, có

cùng hộ khẩu với cụ L2 và cụ T8 tại phần nhà đất xóm A Đ, xã H, huyện U. Bà H có nguyện vọng được giữ lại phần nhà đất này làm kỉ niệm cho con trai.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của bà H

về việc đổi đất và bà H phải có trách nhiệm thanh toán giá trị nhà cùng như giá trị phần đất chệnh lệch cho ông P.

Về việc phân chia thực tế:

Hiện trạng thửa đất 499: Diện tích đất đo vẽ theo hiện trạng thực tế là 398,7m2

tăng so với diện tích đất theo hồ sơ kỹ thuật sổ mục kê và bản đồ VLAP 2013 do UBND xã H quản lý thể hiện 345m2, tăng thêm 53,7m2.

Hiện trạng thửa 501: diện tích đất đo vẽ theo hiện trạng thực tế là 376,3m2 giảm

so với diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 262214 thể hiện 381,9m2, thiếu 5,6m2.

Tuy nhiên, qua xác minh và ý kiến của các đương sự đều thể hiện diện tích đất

nêu trên không có biến động, không có tranh chấp với các hộ liền kề, tứ cận đã có tường bao và các công trình xây dựng, hiện trạng cả 02 thửa đất vẫn giữ nguyên hình thể. Các đương sự đều không có ý kiến thắc mắc gì về diện tích đo đạc hiện trạng thực tế đối với 02 thửa đất 499 và 501 nêu trên. UBND xã H xác định diện tích 53,7m2 tăng thuộc diện tích đất công do UBND xã H quản lý (Phần đất này nằm trong phạm vi bảo vệ đê điều).

Theo công văn số 117 của Hạt quản lý đê điều số 15 thể hiện:

“Vị trí thửa đất số 499, tờ bản đồ số 26 hiện đang tranh chấp nêu trên tại vị trí

Km71+361 hạ lưu đê tả Đáy (nằm trong khu dân cư), theo đó hành lang bảo vệ đê điều được tính từ chân đê trở ra 5m. Phạm vi bảo vệ đê được xác định bởi các mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ đê: TD-HL 790(X 578735.174; Y2287801); TD-HL 791 (X578798.395; Y2287750)…”.

* Đối với thửa đất số 499.

Trong quá trình xem xét thẩm định và định giá tài sản tại thửa đất số 499, Tòa

án cấp sơ thẩm cũng đã thể hiện phần diện tích không nằm trong và phần diện tích nằm trong diện tích đất công và diện tích hành lang đê của từng phần đất mà các đương sự đang sử dụng thực tế; Hội đồng xét xử căn cứ vào các diện tích đất này để phân chia cho các đương sự theo hướng đi từ H - Hồ N, thửa đất được chia làm 06 phần, cụ thể:

- Phần thứ nhất được chia cho anh Nguyễn Hà T1 và chị Nguyễn Thị L được

đồng sở hữu, có diện tích 55,0m2 được giới hạn bởi các điểm 1-2-23-19-20-21-22-1; Anh T2 và chị L được đồng sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc phần diện tích đất được chia này.

- Phần đất thứ hai được chia cho bà Nguyễn Thùy H, có diện tích 53,9m2, được

giới hạn bởi các điểm 2-3-24-23-2; Bà H được toàn quyền sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc phần diện tích đất được chia này.

- Phần thứ ba được chia cho ông Nguyễn Hà H2 có diện tích 52,2m2, được giới

hạn bởi các điểm 3-4-25-24-3; Ông H2 được toàn quyền sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc phần diện tích đất được chia này.

- Phần thứ tư được chia cho anh Nguyễn Quốc T3 và chị Nguyễn Thị Thu T4

đồng sở hữu có diện tích 36,3m2, được giới hạn bởi các điểm 4-5-26-25-4; Anh T3 và chị T4 được đồng sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc phần diện tích đất được chia này.

- Phần thứ năm được chia cho ông Nguyễn Hà Q1 có diện tích 39,1m2, được giới

hạn bởi các điểm 5-6-27-26-5; Ông Q1 được toàn quyền sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc phần diện tích đất được chia này.

- Phần thứ sáu được chia cho ông Nguyễn Hà V có diện tích 37,3m2, được giới

hạn bởi các điểm 6-7-8-27-6; Ông V được toàn quyền sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc phần diện tích đất được chia này.

Đối với các diện tích lợp tôn, văng phía trước của phần diện tích đất được chia

cho ai thì người đó được tiếp tục quản lý, sử dụng và phải chấp hành các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

* Đối với thửa đất số 501.

Căn cứ vào hiện trạng sử dụng hiện nay của gia đình bà Y. Đồng thời, do bà Y

xây nhà trên phần diện tích đất có chiều dài mặt tiền rộng hơn so với khi được bố mẹ chia cho, dẫn đến chiều dài mặt tiền 03 phần còn lại sẽ bị hẹp hơn. Khi xem xét đến việc phân chia thửa đất số 501 theo thực tế thứ tự phần diện tích đất chia cho 04 cô con gái và diện tích đất chia cho bà Y sẽ có sự thay đổi để phù hợp với thực tế, cụ thể:

- Phần thứ nhất (trên đất có ngôi nhà 02 tầng cùng các tài sản khác gắn liền với

đất) chia cho bà Nguyễn Thị Y, có diện tích 80,7m2, được giới hạn bởi các điểm 1-2-18-17-15-1.

- Phần thứ hai (trên đất có gian nhà cấp 4 và riêng phần mộ có diện tích 3,96m2)

được chia cho ông Nguyễn Hà P có diện tích 103,49m2, được giới hạn bởi các điểm 2-3-20-19-12-13-14-16-17-18-2.

- Phần thứ ba (trên đất có một phần của gian nhà cấp 4) được chia cho bà Nguyễn

Thị H3 có diện tích 94,075m2 , được giới hạn bởi các điểm 3-4-22-21-11-12-19-20-3.

- Phần thứ tư (trên đất có gian nhỏ lợp tôn) được chia cho bà Nguyễn Thị H1 có

diện tích 94,075m2, được giới hạn bởi các điểm 4-5-6-7-8-9-10-11-21-22-4.

Về thanh toán giá trị chênh lệch:

Trên phần diện tích thửa đất 501 nêu trên, ngoài ngôi nhà 02 tầng xây dựng kiên

cố hiện do gia đình bà Nguyễn Thị Y đang quản lý sử dụng, còn 01 gian nhà cấp 4 và 01 gian lợp mái tôn liền kề bên cạnh ngôi nhà 02 tầng; 02 gian này đều do gia đình bà Y xây dựng tạm lên để chứa đồ, không có giá trị cao, bà Y không có yêu cầu gì đối với 02 gian nhà tạm này nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là có căn cứ.

Bà H phải thanh toán cho ông P ½ giá trị căn nhà là 103.699.500 đồng và giá trị

đất chênh lệch là: (53,9m2 x 25.000.000 đồng/1m2) – (94,075m2 x 13.000.000 đồng/1m2) = 124.525.000 đồng. Tổng cộng là 228.224.500 đồng.

Bà H phải thanh toán cho bà Y số tiền: (94,075m2 – 80,7m2) x 13.000.000

đồng/1m2 = 173.875.000 đồng.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần kháng

nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sửa án sơ thẩm như nội dung phân tích ở trên.

3.2. Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thùy Hương

Như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần kháng

cáo của bà H sửa án sơ thẩm như nội dung trên.

3.3. Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hà

P, bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Hà Q1.

Như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần kháng

cáo của ông P, bà H1, ông Q1 sửa án sơ thẩm như nội dung trên.

Về chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản: Bà H đã nộp chi phí xem xét,

thẩm định và định giá tài sản và không có ý kiến gì nên Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết là có căn cứ.

. Về án phí:

4. 1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

4.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên các đương sự không

phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: -Khoản 2 Điều 308; Điều 147; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Các Điều 461, Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 1995

- Các Điều 465, Điều 467 Bộ luật Dân sự năm 2005.

- Điều 203 Luật Đất đai năm 2003.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: 1. Sửa bản án dân sử sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 02/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện U và quyết định cụ thể như sau: 1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thùy H. Xác định Biên bản giao quyền sử dụng đất ngày 21/02/2002 và Biên bản chia đất ngày 02/11/2006 là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Khi cụ Nguyễn Hà L2 và cụ Dương Thị T8 còn sống đã phân chia tài sản chung của hai cụ cho các con gồm có: Ông Nguyễn Hà B1, ông Nguyễn Hà M1, ông Nguyễn Hà P, ông Nguyễn Hà V, ông Nguyễn Hà Q1, ông Nguyễn Hà H2, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thùy H và bà Nguyễn Thị H3. 1.2. Công nhận thỏa thuận đổi đất giữa ông Nguyễn Hà Q1, ông Nguyễn Hà P, ông Nguyễn Hà B1 và bà Nguyễn Thùy H theo các Biên bản thỏa thuận ngày 29/02/2013 và Biên bản thỏa thuận ngày 20/02/2023. 1.3. Xác định công sức của ông Nguyễn Hà P và bà Nguyễn Thùy H đối với việc xây dựng ngôi nhà trên phần diện tích đất đã đổi cho ông Nguyễn Hà Q1 có trị giá mỗi người là 103.699.500 đồng. 1.4. Chia bằng hiện vật cụ thể như sau: * Đối thửa đất 499, tờ bản đồ số 26, bản đồ VLAP 2013, diện tích 345m2 (diện tích hiện trạng 398,7m2), loại đất ở tại nông thôn tọa lạc tại xóm A thôn Đ, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội:

- Phần thứ nhất được chia cho anh Nguyễn Hà T1 và chị Nguyễn Thị L được đồng sở hữu, có diện tích 55,0m2 được giới hạn bởi các điểm 1-2-23-19-20-21-22-1; Anh T2 và chị L được đồng sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc phần diện tích đất được chia này.

- Phần đất thứ hai được chia cho bà Nguyễn Thùy H, có diện tích 53,9m2, được giới hạn bởi các điểm 2-3-24-23-2; Bà H được toàn quyền sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc phần diện tích đất được chia này.

- Phần thứ ba được chia cho ông Nguyễn Hà H2 có diện tích 52,2m2, được giới hạn bởi các điểm 3-4-25-24-3; Ông H2 được toàn quyền sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc phần diện tích đất được chia này.

- Phần thứ tư được chia cho anh Nguyễn Quốc T3 và chị Nguyễn Thị Thu T4 đồng sở hữu có diện tích 36,3m2, được giới hạn bởi các điểm 4-5-26-25-4; Anh T3 và chị T4 được đồng sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc phần diện tích đất được chia này.

- Phần thứ năm được chia cho ông Nguyễn Hà Q1 có diện tích 39,1m2, được giới hạn bởi các điểm 5-6-27-26-5; Ông Q1 được toàn quyền sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc phần diện tích đất được chia này.

- Phần thứ sáu được chia cho ông Nguyễn Hà V có diện tích 37,3m2, được giới hạn bởi các điểm 6-7-8-27-6; Ông V được toàn quyền sở hữu đối với công trình xây dựng trên đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc phần diện tích đất được chia này. Đối với các diện tích lợp tôn, văng phía trước của phần diện tích đất được chia cho ai thì người đó được tiếp tục quản lý, sử dụng và phải chấp hành các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. * Đối với thửa đất số 501, tờ bản đồ 05, diện tích 381,9m2 (diện tích hiện trạng 376,3m2), đất ở, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 262214 do UBND huyện U cấp cho ông Nguyễn Hà L2 ngày 24/10/2006, vào sổ cấp GCNQSDĐ 00941/ƯH tọa lạc tại xóm A thôn Đ, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội:

- Phần thứ nhất (trên đất có ngôi nhà 02 tầng cùng các tài sản khác gắn liền với đất) được chia cho bà Nguyễn Thị Y, có diện tích 80,7m2, được giới hạn bởi các điểm 1-2-18-17-15-1.

- Phần thứ hai (trên đất có gian nhà cấp 4 và riêng phần mộ có diện tích 3,96m2) được chia cho ông Nguyễn Hà P có diện tích 103,49m2, được giới hạn bởi các điểm 2-3-20-19-12-13-14-16-17-18-2.

- Phần thứ ba (trên đất có một phần của gian nhà cấp 4) được chia cho bà Nguyễn Thị H3 có diện tích 94,075m2, được giới hạn bởi các điểm 3-4-22-21-11-12-19-20-3.

- Phần thứ tư (trên đất có gian nhỏ lợp tôn) được chia cho bà Nguyễn Thị H1 có diện tích 94,075m2, được giới hạn bởi các điểm 4-5-6-7-8-9-10-11-21-22-4. (Kèm theo bản án này có sơ đồ, bảng kê tọa độ phân chia xác định giới hạn bởi các cạnh, điểm vị trí diện tích đất của từng phần diện tích đất được chia cho các con, cháu cụ L2, cụ T8). 1.5. Về thanh toán giá trị chênh lệch: Buộc bà Nguyễn Thùy H phải thanh toán cho ông Nguyễn Hà P số tiền là 228.224.500 đồng. Buộc bà Nguyễn Thùy H phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Y số tiền là 173.875.000 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. 1.6. Trong thời hạn 30 ngày - kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, buộc ông Nguyễn Hà P và chị Nguyễn Thị M chấm dứt hợp đồng thuê nhà để bàn giao toàn bộ diện tích nhà đất cùng tài sản khác gắn liền với đất cho ông Nguyễn Hà Q1 tại phần đất thứ năm của thửa đất số 499 như đã nêu trên. 1.7. Trong thời hạn 30 ngày - kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, buộc ông Nguyễn Hà Q1 có trách nhiệm di chuyển, dọn toàn bộ đồ đạc của ông Q1 để bàn giao lại toàn bộ diện tích nhà đất cùng tài sản khác gắn liền với đất cho bà Nguyễn Thùy H tại phần đất thứ hai của thửa đất số 499 như đã nêu trên. 1.8. Anh Nguyễn Hà T1 cùng chị Nguyễn Thị L; bà Nguyễn Thùy H, ông Nguyễn Hà H2, anh Nguyễn Quốc T3 cùng chị Nguyễn Thị Thu T4; ông Nguyễn Hà Q1, ông Nguyễn Hà V, bà Nguyễn Thị Y, Ông Nguyễn Hà P, bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị H1 đều có quyền, nghĩa vụ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất được phân chia như trên theo đúng quy định của pháp luật về quản lý đất đai. Các đương sự nêu trên đều có quyền liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định tại bản án của Tòa án.

2. Về án phí: 2.1.Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thùy H phải chịu 23.083.980 đồng án phí dân sự sơ thẩm. 2.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả ông Nguyễn Hà P số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng áp phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0011717 ngày 10/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U, thành phố Hà Nội. Hoàn trả bà Nguyễn Thị H1 số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng áp phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0011718 ngày 10/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U, thành phố Hà Nội. Hoàn trả ông Nguyễn Hà Q1 số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng áp phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0011716 ngày 10/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U, thành phố Hà Nội. Bà Nguyễn Thùy H đã nộp số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0011708 ngày 06/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U, thành phố Hà Nội nay chuyển thành án phí. Bà H còn tiếp tục phải nộp số tiền 22.783.980 đồng án phí.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án

Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ