- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2024/HSST Ngày: 21-8-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Nương
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Lê Thanh Phong
2/ Ông Lê Văn Tiềm
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên tòa: ông Phạm Văn Nhủ- Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 08 năm 2024, Thông báo thay đổi ngày xét xử ngày 14 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D
Tên gọi khác: không;
Sinh ngày 29 tháng 12 năm 1991; Nơi sinh: Cần Thơ.
Nơi thường trú: khu vực L, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ.
Chỗ ở hiện nay: khu vực L, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ.
Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn (văn hóa): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1953 (chết) và bà Cao Thị A, sinh năm 1953 (sống); anh chị em ruột có 06 người, lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1989; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền sự: không.
Tiền án: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn theo Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định tạm giữ từ ngày 06 tháng 5 năm 2024 và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Chị Nguyễn Thị Kim E, sinh năm 1982. Nơi cư trú: khu vực L, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
2. Anh Lê Trường H, sinh năm 1993. Nơi cư trú: khu vực A, phường A, quận M, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 06 tháng 5 năm 2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô Môn tiếp nhận tin báo qua điện thoại từ người dân có nội dung liên quan đến đối tượng Nguyễn Văn D, sinh năm 1991, đăng ký thường trú khu vực L, phường T, quận M nghi vấn có sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy trên người, đang bị Công an phường Thới An mời làm việc. Sau khi tiếp nhận tin báo, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Ô Môn kết hợp với công an phường Thới An, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ tiến hành khám xét khẩn cấp người và khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn D tại khu vực L, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ. Qua khám xét lực lượng công an thu giữ: 01 gói nilon nẹp miệng bên trong chứa tinh thể không màu (nghi là ma túy) thu giữ được trong túi quần phía trước bên phải mà Nguyễn Văn D đang mặc, 01 điện thoại di động có chữ Iphone màu vàng gold, có số imeil: 357219093420896, số imei2: 357219093570195, gắn sim mobifone có số sêri: 8401210892794857, điện thoại đã qua sử dụng (BL36-37).
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn D khai nhận: Vào sáng ngày 06 tháng 5 năm 2024, D đi từ nhà đến Trung tâm Y tế quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ để nhận thuốc điều trị cắt cơn nghiện ma túy nhưng sau khi đến do không nhận được thuốc uống nên D đi về nhà, trên đường về D nhớ đến việc trước đây bạn bè giới thiệu gần bến đò phường Thới An, quận Ô Môn có người bán ma túy. Lúc này, D đi đến đoạn đường gần bến đò phường Thới An, quận Ô Môn thì gặp một người thanh niên không rõ họ tên, nói giọng miền nam, khoảng 40 tuổi và mua gói ma túy với số tiền 500.000 đồng rồi mang đến nhà bạn tại khu vực Thới Lợi A, phường Thới An, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ nhưng không nhớ bạn tên gì và địa chỉ cụ thể rồi đi vào một mình lấy một ít ma túy ra sử dụng, số ma túy còn lại D để vào túi quần đang mặc rồi đi về nhà thì bị lực lượng công an phường Thới An, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ mời về trụ sở công an phường làm việc và thu giữ gói ma túy trên. Mục đích mua ma túy của D là để sử dụng, ngoài ra không có ai hùn tiền cùng với D để mua ma túy (BL53-56).
Tại Kết luận giám định số 123/KL-KTHS ngày 13 tháng 5 năm 2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1909 gam (BL15).
Đối với người bán ma túy cho Nguyễn Văn D và nhà người bạn D đi vào để sử dụng trái phép chất ma túy do D không rõ họ tên và địa chỉ nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô Môn không tiến hành mời làm việc được, khi nào làm việc được đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số 74/CT-VKS-OM ngày 22 tháng 7 năm 2024 Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ để xét xử bị cáo Nguyễn Văn D về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn D theo tội danh và điều luật đã nêu tại Cáo trạng số 74/CT-VKSOM ngày 22/7/2024. Qua phân tích về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) 06 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng áp dụng: Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số 123/KL-KTHS ngày 13/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ có chữ ký của cán bộ niêm phong Phùng Gia Linh và có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ và 02 vỏ gói nilon nẹp miệng, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động có chữ Iphone màu vàng gold, có số imeil: 357219093420896, số imei2: 357219093570195, gắn sim mobifone có số sêri: 8401210892794857, điện thoại đã qua sử dụng.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Ô Môn, điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; của Viện kiểm sát nhân dân Quận Ô Môn, Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Về căn cứ kết tội: Lời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa; Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can tại cơ quan điều tra; Biên bản khám xét ngày 06/5/2024; Kết luận giám định số 123/KL-KTHS ngày 13/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ; Biên bản niêm phong, mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; các biên bản ghi lời khai và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.
Xét lời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Công an phường Thới An, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Ô Môn phối hợp cùng Công an phường Thới An qua khám xét phát hiện bị cáo Nguyễn Văn D có cất giữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,1909 gam (mẫu vật còn lại sau giám định: 0,1395 gam), loại Methamphetamine, vị trí thu giữ trong túi quần phía trước bên phải mà bị cáo đang mặc, mục đích cất giữ để sử dụng. Hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là 0,1909 gam này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Ma túy là hiểm họa lớn của toàn nhân loại, đã trực tiếp hủy hoại cuộc sống của hàng triệu con người, nó là mối đe dọa lớn đối với đời sống xã hội, đất nước và là nguồn gốc phát sinh những tội phạm khác. Vì vậy, Nhà nước đã có chế tài nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại và hậu quả của việc sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo lại thực hiện hành tàng trữ trái phép chất ma túy với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm lớn cho xã hội, xâm phạm đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo từng có tiền án, tiền sự tuy đã được xoá nhưng không được xem là người có nhân thân tốt. Do đó, để giáo dục răn đe bị cáo, góp phần đấu tranh phòng chống loại tội phạm ma túy, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, sống đặt mình trong khuôn khổ pháp luật.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cáo trạng truy tố ghi nhận bị cáo có 03 tiền sự chưa được xoá, đối chiếu các quyết định xử lý vi phạm hành chính cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án với quy định tại các Điều 7, 73, 74, 86 và 88 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định về thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, bị cáo thuộc trường hợp 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, xác định bị cáo không có tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thể hiện bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án: Theo đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa nêu trên là có cơ sở, phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Đối với người bán ma túy cho Nguyễn Văn D do bị cáo khai không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không xác minh được. Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ô Môn tiếp tục xác minh làm rõ, khi có đủ cơ sở xử lý theo quy định pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Nguyễn Văn D 02 (hai) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/5/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy gồm:
+ Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1395 gam, trong 01 (một) gói niêm phong số 123/KL-KTHS ngày 13/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ, chữ ký của cán bộ niêm phong Phùng Gia Linh và.
+ 02 vỏ gói nilon nẹp miệng không màu, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động có chữ Iphone màu vàng gold, có số imeil: 357219093420896, số imei2: 357219093570195, gắn sim mobifone có số sêri: 8401210892794857, điện thoại đã qua sử dụng.;
(Vật chứng hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/7/2024 của Công an quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ).
Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND TP. Cần Thơ; - VKSND Q. Ô Môn; - Chi cục THADS Q. Ô Môn; - Công an Q. Ô Môn; - Sở Tư pháp TP. Cần Thơ; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN Lê Thanh Phong Lê Văn Tiềm | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LƯU THỊ HỒNG NƯƠNG THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Hồng Nương |