- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Kim B khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim B. Cho chị Nguyễn Thị Kim B được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08-8-2024 V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Xuân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Ứng Cương
2. Ông Nguyễn Văn Kiện
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Như Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 150/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXX-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 46/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim B, sinh năm 1987 (có mặt)
HKTT: Ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1984 (vắng mặt)
HKTT: phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim B trình bày:
Về hôn nhân: Vào năm 2005, chị Nguyễn Thị Kim B và anh Nguyễn Văn Đ quen biết và tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới nhưng đến năm 2008 mới đăng ký kết hôn tại UBND phường phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 10-01-2008.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày và do anh Đ không chăm lo làm ăn, chăm sóc vợ con và thường xuyên ghen tuông vô cớ nên anh chị thường xuyên cãi nhau và anh Đ đe dọa hành hung chị B dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chị B và anh Đ đã sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay. Hiện nay chị B không còn tình cảm với anh Đ nữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị B yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim B và anh Nguyễn Văn Đ có 03 con chung tên Nguyễn Thảo V1, sinh ngày 27-12-2006, Nguyễn Tường V2, sinh ngày 09-02-2011 và Nguyễn Tú V3, sinh ngày 07-4-2019, hiện nay đang sống chung với anh Đ. Chị B đồng ý giao 03 con chung cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con hàng tháng mỗi con 1.000.000 đồng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim B xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn Đ: Không có ý kiến bằng văn bản theo Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và cũng không có mặt theo giấy triệu tập làm việc, Thông báo phiên họp và Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án.
Tại phiên tòa anh Đ vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghị án, Toà án nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn Đ chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim B, Toà án đã làm đầy đủ thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Đ vẫn vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xử vắng mặt bị đơn. Do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim B và anh Nguyễn Văn Đ chung sống với nhau vào năm 2005 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và được UBND phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 10-01-2008, đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim B: Vợ chồng chị Nguyễn Thị Kim B và anh Nguyễn Văn Đ không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau nữa, thể hiện qua lời trình bày của chị B tại Toà án: Chị B và anh Đ có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày nên thường xuyên cãi nhau. Mặt khác, do anh Đ không chăm lo làm ăn, chăm sóc vợ con và thường xuyên ghen tuông vô cớ và đe dọa hành hung chị B. Chị B xác nhận hiện nay chị không còn tình cảm với anh Đ nữa, anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay mà tình cảm vợ chồng vẫn không hàn gắn được. Toà án xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị B và anh Đ đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị B xin ly hôn với anh Đ là có căn cứ để chấp nhận.
Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Kim B và anh Nguyễn Văn Đ có 03 con chung tên Nguyễn Thảo V1, sinh ngày 27-12-2006, Nguyễn Tường V2, sinh ngày 09-02-2011 và Nguyễn Tú V3, sinh ngày 07-4-2019, hiện nay các con đang sống chung với anh Đ. Chị B đồng ý giao 03 con chung cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng.
Xét thấy, từ thời gian chị B và anh Đ sống ly thân cho đến nay, các cháu vẫn do một mình anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Bên cạnh đó, các cháu cũng có nguyện vọng được ở với cha. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Thảo V1, cháu Tường V2 và cháu Tú V3 cho anh Đ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không gửi văn bản ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không tiến hành hòa giải việc cấp dưỡng nuôi con giữa chị B và anh Đ được. Tuy nhiên, tại phiên tòa chị B tự nguyện cấp dưỡng cho 03 con chung hàng tháng mỗi con 1.000.000 đồng cho đến khi các con đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập anh Đ đúng theo quy định pháp luật nhưng anh Đ vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất về tài sản chung và nợ chung giữa chị B và anh Đ được. Mặt khác, tại Toà án cũng như tại phiên toà chị B xác nhận trong thời gian chung sống cùng anh Đ, anh chị không tạo lập được tài sản gì và cũng không có nợ ai. Cho nên về phần tài sản chung và nợ chung Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim B là nguyên đơn trong vụ án, do đó chị phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án và tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa chị B tự nguyện cấp dưỡng nuôi con nên chị B phải chịu án phí cấp dưỡng với số tiền là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của U ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim B. Cho chị Nguyễn Thị Kim B được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thảo V1, sinh ngày 27-12-2006, cháu Nguyễn Tường V2, sinh ngày 09-02-2011 và cháu Nguyễn Tú V3, sinh ngày 07-4-2019 cho anh Nguyễn Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của chị Nguyễn Thị Kim B đối với cháu Nguyễn Thảo V1, cháu Nguyễn Tường V2 và cháu Nguyễn Tú V3, hàng tháng mỗi cháu 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) kể từ ngày xét xử sơ thẩm (08-8-2024) cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Hai bên giao nhận tiền cấp dưỡng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang hoặc trực tiếp giao nhận.
Kể từ ngày anh Đ có đơn yêu cầu thi hành án nếu chị B không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng như trên thì chị B còn phải trả cho anh Đ khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Chị Nguyễn Thị Kim B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim B phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Ngoài ra, chị B còn phải nộp 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng. Tổng cộng tiền án phí chị B phải nộp là 600.000 đồng nhưng chị B được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005519 ngày 22-4-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, chị Bcòn phải nộp thêm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
6. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Kim B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn Đ vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THA dân sự huyện Châu Thành; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Xuân |