- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Cảnh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cảnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2023/HSST Ngày: 22/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Vân
Ông Lê Công Nhận
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 22/11/2023, tại Nhà văn hóa thôn X, Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 62/2023/HSST, ngày 17/10/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2023/QĐXXST-HS ngày 08/11/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Cảnh T, sinh năm 2003 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Cảnh D và bà Trần Thị ; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/8/2023, đến ngày 25/8/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; có mặt.
* Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Mạnh T1; vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Văn T2; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Cảnh T là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng 20 giờ ngày 17/8/2023, T đi bộ đến xã Tân Việt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương (không rõ địa điểm cụ thể), mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, T mua được 02 viên ma túy dạng kẹo (loại MDMA) của một người đàn ông không quen biết, với giá 800.000đ. T cầm 02 viên ma túy vừa mua được đi tìm chỗ sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đi đến khu vực ngã tư huyện đội cũ, địa phận thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương thì bị tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hải Dương kết hợp với Công an xã T phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong lòng bàn tay phải T đang cầm 01 túi nilon màu trắng, kích thước (5x10)cm, bên trong chứa 02 viên nén màu hồng, hình đa giác, tổng khối lượng là: 0,978g, là ma túy, loại MDMA (theo kết luận giám định số 391/KL-KTHS ngày 20/8/2023).
Bản Cáo trạng số 57/CT-VKSHD-TH ngày 13/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Cảnh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Cảnh T thành khẩn khai nhận như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cảnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh T từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 17/8/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy 0,897g ma túy loại MDMA, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong vật chứng số 391/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại sau giám định. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Cảnh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 20 giờ 30 phút ngày 17/8/2023, tại khu vực ngã tư huyện đội cũ, địa phận thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Cảnh T đang cất giấu trái phép trong lòng bàn tay phải T 0,978g ma túy, loại MDMA, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất an ninh trật tự và ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc cất giấu trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; có nhân thân tốt; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo lao động tự do, nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản, do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra có thu giữ của bị cáo 0,978g MDMA và 01 túi nilon màu trắng. Sau khi giám định, cơ quan giám định hoàn lại 0,897g ma túy loại MDMA, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. MDMA là chất cấm tàng trữ, lưu hành; 01 túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định không có giá trị sử dụng, do vậy, cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, quá trình điều tra không xác định được nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cảnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh T 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 17/8/2023.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
3. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy 0,897g ma túy loại MDMA, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong vật chứng số 391/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại sau giám định.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/10/2023 giữa Công an huyện Thanh Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Cảnh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Cảnh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Thanh Hà; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Hà; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Thanh Hà; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - S Tư pháp tỉnh HD; - Chi cục THADS huyện Thanh Hà; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kim Giang |