- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thái S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2023/HSST Ngày 16 tháng 8 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Nguyễn Tiến Sửu
2.Ông Đỗ Ngọc Thịnh
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Khương Thị Phượng- Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Ông Ngô Trường Út - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 8 năm 2023, tại hội trường nhà văn hóa UBND xã Hợp Lý, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử lưu động sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 63/2023/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2023/QĐXXST-HSngày 02 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Đặng Thái S, sinh ngày 14/02/1999; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: thôn L, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Tiến Đ, sinh năm 1976 và bà Dương Thị T, sinh năm 1975; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại bản án số 83/HSST ngày 24/04/2019 TAND Quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. S đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/02/2020 và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án tháng 01/2020.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/04/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
-Người bào chữa cho bị cáo Sơn: Ông Lê Văn Duy, sinh năm 1979- Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt)
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Hà Minh C, sinh năm
2000; Nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Hải T, sinh năm 1989; nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt)
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1968; nơi cư trú: TDP H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận
tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 14/04/2023, Đặng Thái S, sinh năm 1999 ở thôn L, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc một mình điều khiển xe mô tô BKS 19P1 – 370.99 từ nhà đến khu vực cổng Trung tâm y tế huyện Lập Thạch thuộc TDP P, thị trấn L, huyện L , tỉnh Vĩnh Phúc mục đích để mua ma túy sử dụng. Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến nơi S gặp một người đàn ông không quen biết và mua được của người này 03 gói ma túy heroine với giá 1.500.000 đồng. Sau đó, S cất giấu ma túy vào trong túi áo khoác đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 07 giờ 40 phút cùng ngày khi S đi đến khu vực vườn hoa thuộc TDP H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc thì bị lực lượng Công an huyện Lập Thạch phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại túi áo khoác trước ngực (bên trái) S đang mặc 03 túi nilon màu trắng, bên trong các túi đều chưa chất cục bột màu trắng (niêm phong ký hiệu A1) cùng các vật chứng có liên quan.
Tại Bản kết luận giám định số 1046/KLGĐ ngày 18/04/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: “Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,5688g (Ba phảy năm sáu tám tám gam, không kể bao bì), loại Heroine”.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho S ở khu vực cổng Trung tâm y tế huyện Lập Thạch. Do S không rõ tên tuổi địa chỉ của người này và không nhận dạng được nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Vật chứng vụ án:
- Mẫu vật A1 =3,5688g ma tuý heroine, cơ quan giám định hoàn trả sau giám định là 3,5192g mẫu và toàn bộ bao gói là chất cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Nokia thu giữ của Sơn, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của S, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho S nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 xe mô tô BKS: 19P1 – 370.99 thu giữ của S, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Hà Minh C, sinh năm 2000 ở thôn L, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Tối ngày 13/04/2023, anh C cho S mượn xe để đi lại, anh C không biết S dùng để đi mua ma túy. Do vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh C ngày 28/6/2023.
Quá trình điều tra, bị cáo Đặng Thái S thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số: 67/CT-VKSLT ngày 14 tháng 7 năm 2023 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố bị cáo Đặng Thái S về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch luận tội đối với bị cáo Đặng Thái S. Giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Thái S.
Xử phạt: Bị cáo S từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch đã truy tố và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì.
Người bào chữa cho bị cáo Đặng Thái S: Nhất trí về tội danh đối với bị cáo, bị cáo thành khẩn khai báo, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, quá trình điều tra và tại phiên tòa ăn năn hối cải. Bị cáo gia đình hộ nghèo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức thấp nhất.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo S đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án,căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Đặng Thái S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 14/04/2023 tại TDP H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, Đặng Thái S có hành vi tàng trữ trái phép 03 gói ma tuý (heroine) khối lượng 3,5688g mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an huyện Lập Thạch bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập theo trình tự của Bộ luật tố tụng hình sự được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Hành vi nêu trên của bị cáo Đặng Thái S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý ” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…c) Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
Do đó bản cáo trạng số: 67/CT-VKSLT, ngày 14/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Đặng Thái S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma túy là chất độc dược hủy hoại sức khỏe con người và gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự công cộng. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Về nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết xem xét tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Về nhân thân tại bản án số 83/HSST ngày 24/04/2019 TAND Quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. S đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/02/2020 và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án tháng 01/2020. Bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần xử phạt tù cách ly bị cáo một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:“ Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ…”. Tuy nhiên bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho S ở khu vực cổng Trung tâm y tế huyện Lập Thạch. Do S không rõ tên tuổi địa chỉ của người này và không nhận dạng được nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Mẫu vật A1 =3,5688g ma tuý heroine, cơ quan giám định hoàn trả sau giám định là 3,5192g mẫu và toàn bộ bao gói là chất cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện di động màu xanh, nhãn hiệu Nokia thu giữ của S, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của S, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho S nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 xe mô tô BKS: 19P1 – 370.99 thu giữ của Sơn, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Hà Minh C, sinh năm: 2000 ở thôn L, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Tối ngày 13/04/2023, anh C cho S mượn xe để đi lại, anh C không biết S dùng để đi mua ma túy. Do vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh C ngày 28/6/2023 là đúng chủ sở hữu.
Về án phí: Bị cáo Đặng Thái S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thái S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Thái S 03 (ba ) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/4/2023.
3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy mẫu hoàn lại sau giám định A1=3,5192g.
Trả lại Đặng Thái S 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh, đã cũ, qua sử dụng số Imel: 357723106621069 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch và Chi cục thi hành án huyện Lập Thạch).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Bị cáo Đặng Thái S phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết tại Uỷ ban nhân dân nơi cư trú của người vắng mặt.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; -Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; -Viện kiểm sátnhân dân huyện LậpThạch; -SởTư pháptỉnh Vĩnh Phúc; -Chi cụcThihành ánhuyệnLậpThạch; -Công anhuyện LậpThạch; -Uỷ ban nhândân xãTứYên; -Bị cáo; -Ngườicó quyền lợi nghĩa vụ liênquan; -Lưu: hồsơ,án văn. | Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà (đã ký tên và đóng dấu) TrầnThị Huệ |