- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tòng Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2023/HS-ST Ngày 19/4/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Quàng Thị Kim, bà Bồ Thị Thái.
- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Tía, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Lan, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2023/TLST-HS ngày 21/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2023/QĐXXST-HS ngày 05/4/2023 đối với bị cáo:
Tòng Văn T, sinh ngày 29 tháng 9 năm 1996 tại xã B, huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản C, xã B, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tòng Văn T và bà Tòng Thị X; bị cáo có vợ là Vì Thị P và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 27/11/2015, Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Ngày 17/01/2017, Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt 14 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (đã xóa án tích); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2022 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 20 phút ngày 15/12/2022, tổ công tác Công an phường S làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 1, phường S, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La bắt quả tang Tòng Văn T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi giấy bạc, bên trong có 06 viên nén màu hồng hình tròn (T lấy trong túi quần đang mặc ra nộp, khai nhận là ma túy hồng phiến của T cất giữ để sử dụng).
Ngày 15/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng. Kết quả cân tịnh 06 viên nén màu hồng hình tròn thu giữ của Tòng Văn T có tổng khối lượng 0,59 gam. Lấy 03 viên có tổng khối lượng 0,30 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu T. Còn lại 03 viên có tổng khối lượng 0,29 gam lưu kho vật chứng, ký hiệu T1.
Tại Kết luận giám định số 14/KL-KTHS ngày 16/12/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,30 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,59 gam; loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Tòng Văn T khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 15/12/2022, Tòng Văn T đi xe buýt từ nhà ở bản C, xã B, huyện M, tỉnh Sơn La đến khu vực tổ 1 phường S, thành phố Sơn La tìm mua ma túy sử dụng. Đến nơi, T xuống xe đi bộ, gặp, hỏi, mua được của một người nam giới không quen biết 06 viên hồng phiến được gói trong giấy bạc với số tiền 200.000 đồng. T cất gói ma túy trong túi quần đang mặc, đi bộ tìm nơi sử dụng, đến khu vực gần cổng Bệnh viện quân y 6 thuộc tổ 1 phường S thì bị tổ công tác bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Đối với người bán ma túy, T khai không biết họ tên, tuổi và địa chỉ. Ngoài lời khai của T không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Bản cáo trạng số 108/CT-VKSTP ngày 21/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Tòng Văn T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố: Bị cáo Tòng Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Tòng Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Không phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.
2. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; Mẫu lưu kho ký hiệu T1=0,29 gam”.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về quá trình tiến hành tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi. Xét lời khai của bị cáo hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến. Do vậy, có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 15/12/2022, Tòng Văn T thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,59 gam Methamphetamine để sử dụng. Hành vi của bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Tòng Văn T về tội danh, điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo xâm phạm chế độ quản lý chất ma túy của nhà nước, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Về nhân thân, bị cáo đã hai lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản, đã xóa án tích. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Cần xử phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị và giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, thu nhập lao động tự do, không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền.
[4] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng là chất ma túy và đồ vật liên quan, gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; Mẫu lưu kho ký hiệu T1=0,29 gam.
[5] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Tòng Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt Tòng Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2022.
Không phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.
2. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an thành phố Sơn La đã niêm phong, giấy niêm phong số 083262. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Tòng Văn T. SN: 1996 - Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 15/12/2022. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; Mẫu lưu kho ký hiệu T1=0,29 gam”.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/3/2023 giữa Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Tòng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND thành phố Sơn La; - Công an thành phố Sơn La; - Chi cục THADS thành phố Sơn La; - Trại giam; - THAHS; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hồng Hạnh |