vanban.org

Bản án 67/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 30/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2023) Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI,
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2023/HS-ST
Ngày 30 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Lan Hương

Ông Nguyễn Kim Minh

Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Xuân Sơn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023 tại Hội trường cơ sở cai nghiện ma túy số 2 tỉnh Lào Cai (Thôn Đá Đinh, xã Tả Phời, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai). Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/HSST-QĐ ngày 15 tháng 6 năm 2023 với bị cáo:

NGUYỄN VĂN A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 25 tháng 6 năm 1987 tại huyện Y, tỉnh Yên Bái; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã Bảo Ái, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị N. Bị cáo có vợ Chu Thị H (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2016; Tiền án: Không;

Tiền sự: 01. Tại quyết định số 11/2021/QĐ-TA ngày 08/02/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn A trong thời hạn 15 tháng. Đến ngày 25/02/2022, Nguyễn Văn A chấp hành xong trở về địa phương. Đến nay, chưa được xóa tiền sự

Về nhân thân: Tại quyết định số 112/2019/QĐ-TA ngày 30/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng. Ngày 30/5/2020 Nguyễn Văn A chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ ngày 11/4/2023, Nguyễn Văn A đang ở lán thợ xây tại phường Kim Tân, thành phố Lào Cai thì nảy sinh ý định đi mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Nguyễn Văn A đem theo số tiền 250.000 đồng rồi đi bộ đến khu vực đường L thuộc tổ 3, phường B, thành phố L gặp một người phụ nữ không quen biết và mua của người phụ nữ này này 05 gói ma túy được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 250.000 đồng. Sau đó, Nguyễn Văn A cầm gói ma túy vừa mua được ở lòng bàn tay trái rồi đi bộ ven đường L để tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường B phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ trong lòng bàn tay trái của Nguyễn Văn A 05 gói giấy bạc, bên trong đều chứa chất bột khô màu trắng, vón cục (Nguyễn Văn A khai nhận là Heroine), ngoài ra còn tạm giữ của Nguyễn Văn A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen.

Tại bản kết luận giám định về ma túy số 124/KL-GĐMT ngày 14/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã kết luận: 0,13 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, tang vật thu giữ và kết luận giám định.

Cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 30/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Văn A về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Đề nghị xử lý vật chứng vụ án, Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 11/4/2023, bị cáo Nguyễn Văn A đã có hành vi tàng trữ 0,13 gam Heroine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi tàng trữ 0,13 gam Heroine của bị cáo Nguyễn Văn A đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết pháp luật, mặc dù biết việc tàng trữ, sử dụng trái pháp chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Lào Cai. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, tại quyết định số 11/2021/QĐ-TA ngày 08/02/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 15 tháng. Đến ngày 25/02/2022, chấp hành xong trở về địa phương, tiền sự này đến nay chưa được xóa. Tại quyết định số 112/2019/QĐ-TA ngày 30/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng. Ngày 30/5/2020 Nguyễn Văn A chấp hành xong, tiền sự này đã được xóa. Tuy đã nhiều lần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng Nguyễn Văn A không chịu khó tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục tàng trữ ma túy để sử dụng.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, có mức án tương xứng với hành vi phạm tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Không

Về vật chứng vụ án: Đối với 0,09 gam Heroin còn lại sau giám định thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu NOKIA, màu đen, số seri: 359750065973221, đã cũ, qua sử dụng là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên bị cáo còn phải thi hành khoản tiền phạt và tiền án phí. Vì vậy, tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136- Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điều 38; Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Nguyễn Văn A 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo 11/4/2023.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,09 gam ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư có sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt của bì niêm phong mới này có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Nguyễn Văn A ngày 11/4/2023 tại tổ 3, phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”. Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại nhãn hiệu NOKIA, màu đen, số seri: 359750065973221, đã cũ, qua sử dụng của bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án.

(Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2023)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".

Cỡ chữ