vanban.org

Bản án 67/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 09/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Trần Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Trần Quang T 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt 29/12/2022. Tịch thu tiêu hủy 0,08 gam (Không phẩy không tám gam) Heroine trong phong bì niêm phong số 17/KL-KTHS ngày 03/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q theo biên bản giao vật chứng số: 119 ngày 08… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang Thanh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Trần Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ C
TỈNH Q
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2023/HS-ST
Ngày 09/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C - TỈNH Q

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Hiền và bà Lê Thị Thanh Thủy

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Quốc Thịnh là thư ký của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Q

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Q tham gia phiên tòa: ông Trịnh Hải Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Q xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

TRẦN QUANG T; giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh ngày: 20/12/1964, tại Tp C, tỉnh Q; nơi cư trú: tổ 3, khu Phan Đình Phùng, phường CT, Tp C, tỉnh Q; chỗ ở hiện tại: tổ 1, khu 2a, phường Cẩm Thành, Tp C, tỉnh Q; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 10/10; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Trần Khoa Th; con bà: Nguyễn Thị Thúy Ng; vợ: Đặng Thị Thu TT có 01 con sinh năm 1989; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 29/12/2022, hiện đang bị tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

1. Ông Đỗ Trọng Đ - Sinh năm: 1956; nơi cư trú: tổ 2, khu 1b, phường QH thành phố C, tỉnh Q. (Vắng mặt).

2. Ông Hoàng Quốc H - Sinh năm 1960; nơi cư trú: tổ 1, khu 7A, phường Quang Hanh, thành phố C, tỉnh Q. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 29/12/2022, tại khu vực tổ 5, khu Lê Hồng Phong, phường CT, thành phố C, tỉnh Q, Công an thành phố C kiểm tra Trần Quang T thu giữ tại tay trái của Thành gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng, Thanh khai là ma túy heroin mang theo với mục đích để sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 17/KL- KTHS ngày 03/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Q, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong gói giấy bạc thu giữ của bị cáo Thanh gửi giám định là ma túy, loại Heroin; có khối lượng 0,135 gam.

Cáo trạng số 54/CT-VKSCP, ngày 10/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Q, đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo có lời khai nhận như sau: Thanh sử dụng ma túy heroin từ năm 1986. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên khoảng 10 giờ 00 phút ngày 29/12/2022, Thanh đi đến khu vực ngõ cạnh quán cà phê Nhật Nam thuộc phường Cẩm Tây, Tp C, mua 200.000 đồng ma túy heroine của một người đàn ông không quen biết. Thanh cầm ma túy trên tay trái, đi về hướng Quảng Trường 12-11 để tìm chỗ để sử dụng thì bị Công an bắt giữ.

Người làm chứng là ông Hoàng Quốc H và Đỗ Trọng Đ là những người đi đường tình cờ có mặt tại địa điểm công an kiểm tra bị cáo có lời khai xác nhận sự việc trên.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Q giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, tịch thu tiêu hủy 0,08 gam Heroine sau giám định hoàn lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án , Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do công an TP C lập hồi 10 giờ 30 phút ngày 29/12/2022, phù hợp kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Từ đó Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ kết luận: khoảng 10 giờ 00 phút ngày 29/12/2022, khu vực tổ 5, khu Lê Hồng Phong, phường Cẩm Tây, thành phố C, tỉnh Q, Trần Quang T có hành vi tàng trữ trái phép 0,135 gam chất ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng thì Công an thành phố C bắt quả tang, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...”

Hành vi của bị cáo xâm phạm sự độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và các quy định pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy bị cáo đã bất chấp các qui định của pháp luật tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Vì vậy cần thiết phải xử lý nghiêm khắc bị cáo mới có tác dụng răn đe phòng chống tội phạm, cần phải cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhất định để bị cáo tu dưỡng rèn luyện mình.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên cho hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng: Số ma túy sau giám định hoàn lại 0,08gam Heroine là chất ma túy nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Về hình phạt bổ sung : Xét bị cáo là đối tượng nghiện không có tài sản thu nhập gì nên không áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo, cơ quan điều tra không xác định được nên không có căn cứ xử lý.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Trần Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Quang T 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt 29/12/2022.

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy 0,08 gam (Không phẩy không tám gam) Heroine trong phong bì niêm phong số 17/KL-KTHS ngày 03/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q theo biên bản giao vật chứng số: 119 ngày 08/5/2023 của Chi cục Thi hành án TP C.

Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phi hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ