- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 69/QĐ-VKSNQ ngày 15-5-2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16-5-2023 giữa Công an quận Ngô Quyền và Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2023/HS-ST Ngày 09-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Kiên
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Mão;
Bà Lê Bích Thuỷ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Hùng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2023/TLST-HS, ngày 17 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2023/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Đức V, sinh ngày 09 tháng 10 năm 1998 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ 3, N 1, phường Đ, quận N, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V và bà Phạm Thị B; có vợ là Vũ Bích Ng, sinh năm 1998; có hai con: Con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 03-4-2023, tạm giam từ ngày 05-4-2023; có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Phạm Văn Chiến; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ, ngày 03-4-2023, Nguyễn Đức V đi bộ một mình đến khu vực ngõ 241, đường Lạch Tray, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, V gặp một người phụ nữ không quen biết hỏi mua ma túy đá với giá 400.000 đồng, người phụ nữ này đưa cho V một gói nilon kích thước 2 x 2 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng. Mua được ma túy, V cất giấu vào trong người rồi đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến đầu ngõ 4/241, đường Lạch Tray, phường Đằng Giang thì V bị tổ công tác thuộc Công an quận Ngô Quyền phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật và dẫn giải về trụ sở Công an quận Ngô Quyền lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Thực hiện Lệnh khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Nguyễn Đức V tại tổ 3 N1, phường Đ, quận N, thành phố H không thu giữ đồ vật tài sản gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Kết luận giám định số 308/KL-KTHS ngày 05-4-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,44 gam, loại Methamphetamine.
Về vật chứng: Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền quản lý một phong bì niêm phong số 308MT/PC09 bên trong gồm: chất ma túy, vỏ bao bì hoàn lại sau giám định.
Cáo trạng số 69/CT-VKSNQ ngày 15-5-2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức V về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Đức V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
- Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Đức V như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức V từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03-4-2023.
Miễn phạt tiền là hình phạt bổ sung và buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì đã được niêm phong trong phong bì thư số 308MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nhận định các tình tiết của vụ án:
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được chứng minh bởi Biên bản bắt người phạm tội quả tang, do Công an quận Ngô Quyền lập hồi 18 giờ ngày 03-4-2023, nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 03-4-2023, tại khu vực đầu ngõ 4/241, đường Lạch Tray, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, Hải Phòng, tổ công tác thuộc Công an quận Ngô Quyền bắt quả tang Nguyễn Đức V đã có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã truy tố. Lượng ma túy thu giữ của bị cáo V qua giám định đã kết luận là chất Methamphetamine, có khối lượng là 0,44 gam. Nên hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Đức V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vi phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Do vậy Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền truy tố bị cáo Nguyễn Đức V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy; gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên cần áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét bị cáo là người không có việc làm và thu nhập ổn định, không xác định được bị cáo có tài sản riêng nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Lượng ma túy thu được của bị cáo còn lại sau khi giám định và vỏ bao bì được niêm phong trong phong bì thư có dấu niêm phong số 308/MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng. Đây là lượng ma túy mà bị cáo đã tàng trữ trái phép, là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy, theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo V hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Đức V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức V 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 03-4-2023.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì đã được niêm phong trong phong bì thư số 308/MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 69/QĐ-VKSNQ ngày 15-5-2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16-5-2023 giữa Công an quận Ngô Quyền và Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Nguyễn Đức V phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng; - VKSND TP. Hải Phòng; - PV 06 Công an TP. Hải Phòng; - Công an quận Ngô Quyền; - VKSND quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Kiên |