- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo V V H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/02/2023.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƢƠNG DƢƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2023/HS-ST Ngày 27-6-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hoàng Thắng.
Ông Cụt Xuân Ninh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo- Thư ký Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Võ Trọng Thắng- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: V V H, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 7 năm 1984 tại huyện T D, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản H L, xã M L, huyện K S, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông V V H và con bà V Th Kh; Vợ: V Th N (Đã ly thân), con: Có 02 con; Tiền án: Năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 78/2021/HSST ngày 15/9/2021, đến ngày 07/7/2022 chấp hành xong hình phạt, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08 tháng 02 năm 2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa
2. Họ và tên: D V L, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20 tháng 4 năm 1987 tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: X Tr, xã U K, huyện Ph B, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông D V S (Đã chết) và con bà Ng Th T; Vợ: L Th L, con: 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 03/7/2018 bị Công an huyện Ph B, tỉnh Thái Nguyên ra quyết định xử phạt hành chính số tiên 2.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích. Đã chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08 tháng 02 năm 2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo V V H: Ông Lê Văn Lý – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh V V Th, sinh năm 1970. Trú tại: Bản Vẽ, xã Yên Na, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Có mặt
Người chứng kiến: Anh L V T. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 08/02/2023, khi V V H và D V L đang đi chơi tại bản Vẽ, xã Yên Na, huyện T D, tỉnh Nghệ An thì H rủ L đi mua ma túy về để sử dụng, L đồng ý đồng thời thống nhất với H là L bỏ tiền mua ma túy còn H mượn xe máy chở L đi. Sau đó, V V H mượn xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn đen, biển kiểm soát 37D1-181.41 của V V Th chở D V L đi đến bản Đ, xã L M, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Đến nơi, H và L để xe dưới đường và cùng nhau đi bộ lên đồi gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng mảnh giấy vỏ bao thuốc lá với giá 100.000 đồng. Mua được ma túy, H và L lấy một ít ra sử dụng, số còn lại L gói lại như cũ và gói thêm một bao potylen màu trắng bên ngoài rồi cầm số ma túy trong lòng bàn tay trái cùng H đi về.
Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi V V H đang điều khiển xe máy chở D V L về đến bản Vẽ, xã Yên Na, huyện T D, tỉnh Nghệ An thì bị tổ Công tác Công an xã Yên Na phát hiện, bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong lòng bàn tay trái của L 01 gói potylen màu trắng, bên trong là lớp giấy vỏ bao thuốc lá trong đó chứa chất bột màu trắng. Đồng thời thu giữ của H và L 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn đen, biển kiểm soát 37D1-181.41. V V H và D V L khai nhận số chất bột màu trắng đó là ma túy Heroine của H và L mua về để sử dụng.
Tại bản Kết luận giám định số: 165/KL-PC09 (Đ2-MT), ngày 15/2/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của V V H và D V L gửi tới giám định là ma túy (Heroine), có khối lượng là 0,16 (không phẩy mười sáu) gam.
Bản cáo trạng số 69/CT-VKS-TD ngày 11 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T D đã truy tố V V H, D V L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo V V H mức án 01 năm 06 tháng đến 01 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo D V L mức án 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho các bị cáo, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật;
Người bào chữa cho bị cáo V V H không có ý kiến tranh luận với bản luận tội và đề xuất Hội đồng xét xử xem xét đến việc nhận thức pháp luật của các bị cáo đang còn hạn chế, cư trú ở vùng sâu, vùng xa nên lượng hình ở mức thấp hơn theo đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo cụ thể là 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Anh V V Th xin nhận lại chiếc xe máy YAMAHA, số loại Sirius, màu đen - xanh, mang biển kiểm soát 37D1-181.41 mà công an đã thu giữ.
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo V V H, D V L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù H lời khai của chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù H với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào 15 giờ 30 phút ngày 08/02/2023, tại bản bản Vẽ, xã Yên Na, huyện T D, tỉnh Nghệ An, V V H và D V L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,16 gam Heroine với nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi mà các bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T D đối với các bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Đây là vụ án có nhiều người tham gia thực hiện tội phạm với tính chất đồng phạm giản đơn nên cần phân hóa vai trò của từng người để áp dụng hình phạt sát đúng.
V V H là người khởi xướng, rủ bị cáo L đi mua ma túy nên phải lên mức hình phạt cao hơn bị cáo L là thỏa đáng.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo V V H có 01 tiền án đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo D V L có nhân thân xấu nên khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân phạm tội của bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thái độ khai báo của các bị cáo là thành khẩn, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Bố đẻ bị cáo D V L được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng Nhất đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo và lượng hình ở mức như lời đề nghị của Kiểm sát viên là tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của các bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Đối với V V Th là người đã cho V V H mượn xe máy để đi mua ma túy, do Th không biết H mượn xe máy để đi mua ma túy nên không phạm tội.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho V V H và D V L ở bản Đ, xã L M, huyện T D, tỉnh Nghệ An do không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Xử lý vật chứng: 0,16 Heroine (đã lấy hết để đi giám định) là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn đen, biển kiểm soát 37D1-181.41 thuộc sở hữu của anh V V Th. Anh V V Th không biết V V H, D V L lấy xe của mình để đi mua ma túy về sử dụng nên cần trả lại chiếc xe máy cho anh Th là đúng với quy định của pháp luật
Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo V V H là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo V V H. Bị cáo D V L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo V V H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/02/2023.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo D V L 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/02/2023.
[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Trả lại cho anh V V Th, sinh năm 1970, trú tại Bản Vẽ, xã Yên Na, huyện T D, tỉnh Nghệ An: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn đen, biển kiểm soát 37D1-181.41;
+ Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án;
(Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 11.5.2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T D, tỉnh Nghệ An);
[3] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo V V H.
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH bị cáo D V L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 27/6/2023.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh NA; - VKSND huyện T D; - Công an huyện T D; - UBND xã Mỹ Lý, Kỳ Sơn; - UBND xã Úc Kỳ, Phú Bình, Thái Nguyên; - Người bào chữa; Người CQLVNVLQ; - Các bị cáo, Trại tạm giam; - Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS huyện T D; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thị Ái |