- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 2…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn K, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 16/2023/HS-ST ngày 28/3/2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương về phần quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2023/HS-PT Ngày 19 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Thanh Tuấn.
Các thẩm phán: Bà Đoàn Thị Hương Nhu và ông Nguyễn Xuân Trường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Thắng - Thư ký TAND tỉnh Hải Dương.
- Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 19/6/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 66/2023/TLPT-HS ngày 15/5/2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn K; do có kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 16/2023/HS-ST ngày 28/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
- Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Văn K, sinh ngày 21/10/1963; tại T, Hải Dương; Nơi cư trú: Thôn P, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn P (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; Gia đình có 06 anh chị em; bị cáo là con thứ hai; có vợ: Nguyễn Thị S và con: có 02 con, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Bị hại: Anh Tạ Hải Đ, sinh năm 1993, nơi cư trú: Thôn H, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Tạ Văn A, sinh năm 1964 và bà Vũ Thị S - sinh năm 1968, đều cư trú tại: Thôn H, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương (Bà S ủy quyền cho ông A tham gia tố tụng). Ông A vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1993. Vắng mặt.
Bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn K không có giấy phép lái xe theo quy định. Chiều ngày 05/07/2022, K điều khiển xe máy kéo (máy cày- không có đèn, còi, phanh) từ nhà ra cánh đồng thôn Phí Thanh Xá, xã Lê Hồng, huyện Thanh Miện để cày ruộng. Đến khoảng gần 19 giờ 30 phút cùng ngày, K điều khiển xe máy kéo đi trên đường bê tông từ cánh đồng thôn Phí Thanh Xá (đường nhánh, phía bên phải đường 392C tính theo hướng từ thị trấn Thanh Miện đi xã Đoàn Kết) ra đường 392C (đường chính). Do bị khuất nhà dân ở hai bên đường, nên K không quan sát được các phương tiện ở hai chiều trên đường 392C, nhưng K không dừng lại quan sát để nhường đường cho các phương tiện lưu thông trên đường 392C, mà vẫn tiếp tục điều khiển xe máy kéo ra đường 392C. Khi phần đầu xe máy kéo đi ra lòng đường 392C khoảng 01 mét thì xe mô tô biển kiểm soát 34B5 - 011.62 do anh Tạ Hải Đ điều khiển trên đường 392C theo hướng từ thị trấn Thanh Miện đi xã Đoàn Kết đi đến đã va chạm với đầu xe máy kéo của K, làm xe mô tô biển kiểm soát 34B5-011.62 và anh Tạ Hải Đ bị đổ, ngã và rê trượt về phía trước hướng sang phần đường bên trái theo hướng đi của mình. Đồng thời lúc này xe ô tô biển kiểm soát 34A-368.47 do anh Nguyễn Văn T điều khiển theo hướng từ xã Đoàn Kết đi thị trấn Thanh Miện vừa đi đến và quan sát thấy va chạm đã dừng lại, nhưng anh Tạ Hải Đ ngã theo quán tính vẫn trượt vào gầm đầu xe ô tô của anh Nguyễn Văn T. Sau khi tai nạn xảy ra, người dân đẩy xe máy kéo lùi lại vào trong đường đồng cách đường 392C khoảng 2m để tránh ùn tắc giao thông, ông K ở lại hiện trường cùng mọi người gọi xe cấp cứu đưa anh Tạ Hải Đ đi Bệnh viện đa K tỉnh Hải Dương sau đó chuyển lên Bệnh viện hữu nghị Việt Đức.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 284/TgT ngày 01/9/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Hải Dương kết luận thương tích đối với anh Tạ Hải Đ: Chấn thương cột sống cổ gây vỡ C4 - C5, liệt tuỷ hoàn toàn, đã phẫu thuật xử lý. Hiện di chứng liệt hai chi dưới hoàn toàn, hai chi trên mức độ nặng, rối loạn cơ tròn, đái ỉa không tự chủ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 95% (chín mươi lăm phần trăm).
Tại Kết luận giám định số 5826/KTHS ngày 16/9/2022 của Viện K học hình sự - Bộ Công an kết luận về tình trạng kỹ thuật của xe máy kéo gửi giám định tại thời điểm ngay trước khi xảy ra tai nạn: Hệ thống lái: Xe sử dụng hệ thống lái cơ khí, không có trợ lực lái. Hệ thống lái còn đánh lái được về hai phía. Xe máy kéo không có hệ thống phanh, không có còi và không có đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu.
Tại công văn số 1779/SGTVT-P5 xác định: Chiếc xe của ông Nguyễn Văn K trong vụ việc trên là xe có kết cấu tương tự máy kéo nhỏ, là phương tiện được phép tham gia giao thông đường bộ và người điều khiển phương tiện cần có giấy phép lái xe hạng A4.
Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2023/HS-ST ngày 28/3/2023, Tòa án nhân dân (TAND) huyện Thanh Miện căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 48, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn K. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 41 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/4/2023, bị cáo Nguyễn Văn K kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo. Ngày 14/4/2023, bị cáo K cung cấp đơn xác nhận hoàn cA gia đình khó khăn, đơn đề nghị của bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn đề nghị xin giảm nhẹ phạt và giấy biên nhận số tiền bồi thường theo bản án của Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo K vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo là xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa sau khi phân tích các tình tiết trong vụ án đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn K. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Kn phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề xuất xử phạt bị cáo 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 19/6/2023. Giao bị cáo Nguyễn Văn K cho Ủy ban nhân dân xã Lê Hồng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
. Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn K trong thời hạn luật định là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện Thanh Miện, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người làm chứng, xét thấy việc vắng mặt của những người này không A hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử T hành xét xử vắng mặt những người này là phù hợp theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về nội dung:
. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn K không có giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 05/7/2022, K điều khiển xe máy kéo không đảm bảo an toàn kỹ thuật từ đường cánh đồng thôn Phí Thanh Xá, xã Lê Hồng, huyện Thanh Miện (là đường nhánh) ra đường 392C (đường chính), do không chú ý quan sát, không nhường đường cho phương tiện đi trên đường chính nên phần đầu xe máy kéo do Nguyễn Văn K điều khiển va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 34B5-011.62 do anh Tạ Hải Đ điều khiển theo hướng từ thị trấn Thanh Miện đi xã Đoàn Kết. Hậu quả anh Tạ Hải Đ bị thương, tỉ lệ thương tích là 95%. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 4, khoản 9 Điều 8; khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe máy kéo (máy cày) không có đèn chiếu sáng, còi, phanh, không tuân thủ quy tắc về tham gia giao thông, không chú ý quan sát, không nhường đường cho phương tiện đang đi trên đường chính. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
. Tại cấp sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong vụ tai nạn người bị hại có một phần lỗi khi tham gia giao thông khi không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi đến đường giao nhau. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm có sai sót khi không áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự vì bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả số tiền 30.000.000đ cho người bị hại.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn K: Tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã bồi thường xong cho người bị hại số tiền 239.000.000đ; đại diện của người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo K mức án nhẹ nhất để bị cáo có thời gian chăm sóc gia đình và bản thân vì hoàn gia đình bị cáo K rất khó khăn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại điểm b khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi đã thực hiện; đã chủ động bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại; phía bị hại cũng có đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo; UBND xã Lê Hồng xác nhận bị cáo K có hoàn cA gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, bản thân mắc một số bệnh như tiểu đường, suy thận, suy gan phải thường xuyên thăm khám, điều trị bệnh. Mặt khác trong vụ án này, bị hại cũng có một phần lỗi khi tham gia giao thông không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi đến đoạn đường giao nhau. Từ những phân tích trên, HĐXX xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Hải Dương, sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự Kn hồng của pháp luật.
Bị cáo K kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn K, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 16/2023/HS-ST ngày 28/3/2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương về phần quyết định hình phạt đối với bị cáo.
2. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Văn K.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 36 (Ba mươi S) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (S mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 19/6/2023.
Giao bị cáo Nguyễn Văn K cho Ủy ban nhân dân xã Lê Hồng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án 19/6/2023./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - Phòng HSNV-Công an tỉnh HD; - TAND huyện Thanh Miện; - Công an huyện Thanh Miện; - VKSND huyện Thanh Miện; - Chi cục THADS huyện Thanh Miện; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu Tòa, lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thanh Tuấn |