- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị L - Lê văn D"
- Tòa quyết gì? Kkhoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2023/HNGĐ-ST Ngày: 01/8/2023 “V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Nhạn
2. Ông Lương Chí Nguyện
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Luân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã R , tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R , tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Đẹp - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã R , tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 261/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị A, sinh năm 1990 (có đơn xin xét xử vắng mặt). Địa chỉ: ấp X, xã P, thị xã R , tỉnh Bạc Liêu
- Bị đơn: Anh B, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp X, xã P, thị xã R , tỉnh Bạc Liêu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị A trình bày: Chị A và anh Lê Văn B chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 10/8/2011, tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã R , tỉnh Bạc Liêu. Anh chị có 02 con chung: cháu Lê Phát Đ, sinh ngày 18/11/2009 và cháu Lê Chí Th, sinh ngày 14/6/2016. Trong thời gian chung sống vợ chồng, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Mặc dù đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng chị và anh B đã sống ly thân 02 năm, trong thời gian sống ly thân anh chị không liên lạc hỏi thăm cuộc sống của nhau. Do đó, chị A nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh B không hạnh phúc, không còn quan tâm đến nhau, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh B . Về con chung do cháu Đ hiện tại sống với anh B nên chị đồng ý giao cháu Đạt cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng; còn cháu Th hiện tại đang sống với chị nên chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Văn B đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như vắng mặt tại phiên toà xét xử, nên Toà án không thể ghi nhận ý kiến của anh B .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R , tỉnh Bạc Liêu phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Từ khi thụ lý đến khi xét xử nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án cũng như đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng không có lý do là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị A được ly hôn với anh Lê Văn B . Về con chung giao cháu Đ cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Th cho chị A được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị A và anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R , Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Huỳnh Thị A và anh Lê Văn B tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã P, thị xã R , tỉnh Bạc Liêu cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/8/2011 theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nay chị A khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh B đây thuộc quan hệ “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn”, anh B hiện đang cư trú tại ấp X, xã P, thị xã R , tỉnh Bạc Liêu, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã R theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Chị A là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; anh B là bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và nguyên đơn.
Về hôn nhân:
Sau khi kết hôn hợp pháp, chị A và anh B sống với nhau hòa thuận một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Mặc dù đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng chị và anh B đã sống ly thân 02 năm, trong thời gian sống ly thân anh chị không liên lạc hỏi thăm cuộc sống của nhau. Chị A xác định vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, đời sống vợ chồng không hạnh phúc nên chị A đề nghị Tòa án cho bà được ly hôn với anh B .
Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án đã hòa giải để chị A và anh B đoàn tụ nhưng chị A cương quyết ly hôn vì nhận thấy không còn tình cảm, cả hai không còn quan tâm nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Còn anh B mặc dù đã được triệu tập hợp lệ để tham gia hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do, nên không thể ghi nhận ý kiến của anh B . Mặc khác, hôn nhân phải dựa trên cơ sở tình yêu thương của cả hai vợ chồng, nhưng chị A cương quyết xin ly hôn, giữa chị A và anh B cũng đã sống ly thân thời gian dài, vì vậy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của anh chị đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A là phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện nay của anh chị.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị A và anh B có 02 người con chung: Cháu Lê Phát Đ, sinh ngày 18/11/2009 và cháu Lê Chí Th, sinh ngày 14/6/2016. Chị A xác định cháu Đ hiện tại sống với anh B nên chị đồng ý giao cháu Đ cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng; còn cháu Th hiện tại đang sống với chị nên chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ biên bản xác minh Trưởng ấp X, xã P, thị xã R , tỉnh Bạc Liêu xác định hiện tại cháu Đạt đang sống với anh B , cháu Đạt được anh B chăm sóc, phát triễn tốt. Căn cứ biên bản ghi nhận nguyện vọng của cháu Th, cháu Th có nguyện vọng được sống với chị A vì hiện tại cháu đang sống với chị A và đang đi học trường gần nhà. Để tránh làm xáo trộn cuộc sống của các cháu, tránh ảnh hưởng đến tâm sinh lý của các cháu đang độ tuổi trưởng thành, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ giao cháu Đạt cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Thành cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị A và anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do các bên không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Về tài sản chung, nợ chung các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R là phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng chị A phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Kkhoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị A được ly hôn với anh Lê Văn B .
2. Về con chung: Giao cháu Lê Phát Đ, sinh ngày 18/11/2009 cho anh Lê Văn B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; hiện tại cháu Đạt đang sống với anh B nên được giữ nguyên. Giao cháu Lê Chí Th, sinh ngày 14/6/2016 cho chị Huỳnh Thị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; hiện tại cháu Th đang sống với chị A nên được giữ nguyên.
2.1. Chị Huỳnh Thị A và anh Lê Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con do các bên không yêu cầu.
2.2. Chị Huỳnh Thị A và anh Lê Văn B có quyền và nghĩa vụ thăm nom con không trực tiếp nuôi dưỡng mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Huỳnh Thị A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm buộc chị Huỳnh Thị A có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị Huỳnh Thị A đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại Biên lai thu số: 0014721, ngày 19/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã R , tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí toàn bộ.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận - Các đương sự; - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND cùng cấp; - CCTHADS cùng cấp; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy |