- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị Thu H ly hôn Dương Văn C"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| THÀNH PHỐ L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bán án số: 67/2023/HNGĐ - ST Ngày 12-5-2023 “Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Nam
Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Việt; Ông Trần Hùng Bích
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án
Ngày 12 tháng 5 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố L xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 107/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo số: 127/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Thu H, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Số A, ấp B1, xã K, thành phố L, tỉnh An Giang. (Yêu cầu xét xử vắng mặt)
3. Bị đơn: Ông Dương Văn C, sinh năm 1983
Địa chỉ: Số 251/15, ấp B1, xã K, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/02/2023 và quá trình xét xử, nguyên đơn Đỗ Thị Thu H trình bày: Năm 2006, bà và ông Dương Văn C quen biết, tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân. Đến năm 2008, cả hai có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K theo Giấy chứng nhận kết hôn số 69 ngày 20/6/2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông C không có trách nhiệm với gia đình, bà phải trả tiền nợ cho ông C nhiều lần nên vợ chồng dẫn đến cự cãi, hôn nhân không hạnh phúc, cả hai đã nhiều lần hàn gắn nhưng không được. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông C. Về con chung, bà và ông C có 02 con chung tên Dương Thị Khánh B1, sinh ngày 17/4/2006 và Dương Khánh Đ, sinh ngày 20/5/2017. Bà H đang chăm sóc, nuôi con nên yêu cầu được tiếp tục nuôi con sau ly hôn và yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Dương Văn C trình bày: Thống nhất với bà H về hôn nhân, về con chung. Tuy nhiên, về mâu thuẫn vợ chồng theo bà H trình bày thì không trầm trọng, ông vẫn có trách nhiệm với gia đình, thương yêu vợ con nên yêu cầu được hàn gắn hôn nhân với bà H, ông đang sửa chữa để bà H tha thứ, không đồng ý ly hôn.
Tại phiên tòa Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ ý kiến của các đương sự tại bản tự khai, Tòa án nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn Đ ký thường trú tại thành phố L nên nguyên đơn khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố L theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, không lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung tranh chấp
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 69 ngày 20/6/2008 của Ủy ban nhân dân xã K, thành phố L, thể hiện giữa nguyên đơn, bị đơn tiến đến hôn nhân xuất phát từ sự tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, phù hợp Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, quá trình chung sống, nguyên đơn cho rằng vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thiếu chia sẻ, cảm thông nhau trong cuộc sống vợ chồng nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng bị đơn không đồng ý và yêu cầu được hàn gắn hôn nhân để cùng nhau xây dựng gia đình.
Xét thấy, trong quan hệ hôn nhân vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, tin tưởng và chia sẻ nhau những khó khăn để vượt qua thử thách, đây là cơ sở vững chắc để bồi đắp cho hôn nhân, cho gia đình hạnh phúc. Giữa nguyên đơn, bị đơn đã có thời gian quen biết, tìm hiểu và tiến đến hôn nhân xuất phát từ tình cảm yêu thương nhưng khi đã thành vợ chồng thì cả hai không xây dựng gia đình hạnh phúc, không tin tưởng nhau trong đời sống vợ chồng. Quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn vẫn kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng bị đơn không đồng ý. Tuy nhiên, xét về tình nghĩa vợ chồng, cả hai thừa nhận không còn chung sống với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ và thực hiện các công việc trong gia đình, điều này thể hiện hôn nhân đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn là có căn cứ, phù hợp với Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.
Về con chung: Ông C và bà H có 02 con tên Dương Thị Khánh B1, sinh ngày 17/4/2006 và Dương Khánh Đ, sinh ngày 20/5/2017. Hiện các con do nguyên đơn chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc học hành cũng như xem xét điều kiện, hoàn cảnh của nguyên đơn, Hội đồng xét xử chấp nhận giao quyền cho nguyên đơn được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nguyên đơn cùng các thành viên gia đình không được cản trở bị đơn trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Nguyên đơn và bị đơn có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định tại Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng: Bà H yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi mỗi con hàng tháng là 2.000.000 đồng. Xét thấy, ông C hành nghề chạy xe taxi, công việc có thu nhập không ổn định, riêng bà H là công nhân may thu nhập có phần ổn định hơn ông C. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của bà H, buộc ông C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi con là 1.000.000 đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng tính ngày tuyên án đến khi con thành niên và có khả năng lao động.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
Về án phí: Nguyên đơn, bị đơn phải nộp án phí hôn nhân, dân sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228, Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 19; Điều 51; Điều 56, Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án;
Xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đỗ Thị Thu H đối với bị đơn Dương Văn C.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Thu H được ly hôn với ông Dương Văn C. Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông C chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
[2] Về con chung: Bà H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo 02 con tên Dương Thị Khánh B1, sinh ngày 17/4/2006 và Dương Khánh Đ, sinh ngày 20/5/2017
Nguyên đơn cùng các thành viên gia đình không được cản trở bị đơn trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Nguyên đơn và bị đơn có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định tại Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về cấp dưỡng: Ông C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi con là 1.000.000 đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng tính ngày tuyên án đến khi con thành niên và có khả năng lao động.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
[5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn Đỗ Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001403 ngày 09/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L. Nguyên đơn đã thực hiện xong.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Dương Văn C phải có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
(Giải thích điều 26 Luật Thi hành án dân sự)
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Chi cục Thi hành án dân sự TPL; - VKSND TPL; - Phòng KTNV - TAND tỉnh An Giang; - UBND xã K, TPL; - Lưu hồ sơ + VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc Nam Nguyễn Quốc Nam |