vanban.org

Bản án 67/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim A.

Chị Nguyễn Thị Kim A được ly hôn với anh Phạm Văn Th. 2/ Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim A.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27/9/2023
“V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình
ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Phương Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Hải

Ông Ngô Quốc Tiến

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Hoàng Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 27/9/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 179/2023/TLST-HNGĐ ngày 07/8/2023, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 341/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 263/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11/9/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1985; Địa chỉ thường trú: Tổ A, Ấp B, xã Tân Nghĩa, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Tạm trú: Tổ A, Ấp B, xã Mỹ Trà, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

2. Bị đơn: Anh Phạm Văn Th, sinh năm 1985; Địa chỉ thường trú: Tổ A, Ấp B, xã Tân Nghĩa, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp;

Địa chỉ tạm trú: Nhà trọ T, Tổ A, ấp H, xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim A trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Kim A với anh Th kết hôn vào năm 2011, đăng ký kết hôn vào ngày 01/6/2011 tại UBND xã M, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Thời gian đầu anh chị chung sống với nhau hạnh phúc. Tuy nhiên đến năm 2015, phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên tranh cãi nhau. Do bất đồng quan điểm với nhau nên anh chị không sống chung từ năm 2015 cho đến nay. Chị Kim A cũng nhiều lần tìm cách để hàn gắn tình cảm nhưng không thành, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Nhận thấy đời sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị Kim A yêu cầu tòa án giải quyết được ly hôn với anh Phạm Văn Th.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên là Phạm Trung H, sinh ngày 07/11/2011. Hiện nay con chung đang sống chung với chị Kim A. Sau khi ly hôn chị Kim A yêu cầu được nuôi con chung. Chị Kim A không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Anh Phạm Văn Th không gửi văn bản ý kiến, không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim A yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn Th, yêu cầu được nuôi con chung; Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con. Bị đơn Phạm Văn Th hiện cư trú tại xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Phạm Văn Th nhưng anh Phạm Văn Th không có mặt tại phiên tòa. Do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Phạm Văn Th.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Kim A và anh Th trên cơ sở tự nguyện, có quen biết, tìm hiểu nhau trước khi kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Trà, thành phố Cao Lãnh (Số đăng ký 23, ngày 01/6/2011) nên quan hệ hôn nhân giữa chị Kim A và anh Th là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Tại phiên tòa, chị Kim A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu được ly hôn với anh Th.

Chị Kim A trình bày, nguyên nhân mâu thuẫn do anh Th thường chỉ lo đi nhậu với bạn bè, không quan tâm chăm sóc gia đình, không phụ giúp chi phí sinh hoạt trong gia đình cùng với chị Kim A, chị Kim A đã bỏ về nhà cha mẹ sống từ năm 2015 cho đến nay. Hiện nay, chị Kim A thấy tình cảm vợ chồng không còn có thể hàn gắn, hôn nhân không mang lại hạnh phúc, mục đích xây dựng gia đình không đạt được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Th.

Đối với anh Th, Tòa án đã triệu tập, gửi các văn bản tố tụng, nhưng anh Th không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Điều này chứng tỏ anh Th bỏ mặc quan hệ hôn nhân của mình, không thể hiện thiện chí để đoàn tụ gia đình với chị Kim A.

Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình: "Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình…"

Tuy nhiên, theo như chị Kim A trình bày cho thấy giữa anh chị không tìm được tiếng nói chung, có nhiều mâu thuẫn trong một thời gian dài. Anh chị đã sống ly thân khoảng 8 năm, nhưng cả hai vẫn không tìm được cách hóa giải những mâu thuẫn giữa vợ chồng để hàn gắn tình cảm, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, đời sống chung của vợ chồng chị Kim A và anh Th không thể kéo dài, nên căn cứ theo Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Kim A.

Về con chung của chị Kim A, anh Th là cháu Phạm Trung H, sinh ngày 07/11/2011, từ trước đến nay đều sống chung với chị Kim A, do chị Kim A nuôi dưỡng.

Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu H đang có cuộc sống ổn định với Kim A, được chăm sóc và học tập, cháu H có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Do đó, tiếp tục giao cháu H cho chị Kim A nuôi dưỡng là phù hợp.

Đối với tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị Kim A không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Kim A, anh Th không yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Án phí: Chị Kim A phải chịu 300.000 tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim A.

- Chị Nguyễn Thị Kim A được ly hôn với anh Phạm Văn Th.

2/ Về con chung:

Giao con chung là cháu Phạm Trung H, sinh ngày 07/11/2011 cho chị Kim A tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Phạm Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Kim A không yêu cầu.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3/ Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4/ Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim A phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0012714 ngày 04/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp. Chị Kim A đã nộp đủ tiền án phí.

Chị Kim A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Th có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ