vanban.org

Bản án 67/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Trà Thị Thu N.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trà Thị Thu N được ly hôn với ông Lê Khánh Đ. Về quan hệ con chung: Bà Trà Thị Thu N được tiếp tục nuôi 02 con chung: 1/ Lê Khánh H, sinh ngày 03/02/2020; 2/ Lê Đức A, sinh ngày 13/01/2022.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trà Thị Thu Nguyệt ly hôn với Lê Khánh Đăng"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Trà Thị Thu N.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRI TÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 67/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12 - 12 - 2023.
Về tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN – TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Chau Rot Tha;

2. Bà Lê Huỳnh Ngọc Lý.

- Thư ký phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Ông Chau Pholy – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 231/2023/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 10 năm 2023 về: “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trà Thị Thu N, sinh năm: 2003; địa chỉ cư trú: Tổ B, ấp P, xã L, huyện T, tỉnh An Giang.

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà N là Luật sư Quách Thanh P – Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A.

Bị đơn: Ông Lê Khánh Đ, sinh năm: 1997; địa chỉ cư trú: Tổ F, ấp P, xã L, huyện T, tỉnh An Giang.

(Tại phiên tòa, các ông bà N, Luật sư P, ông Đ cùng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 07/8/2023 với các tài liệu kèm theo cũng như quá trình tố tụng tại tòa, bà Trà Thị Thu N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà với ông Đ được hình thành là do tự tìm hiểu, được cha mẹ đứng ra tổ chức đám cưới cho hai người vào năm 2019, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND xã L vào ngày 08/8/2022. Cuộc sống chung hạnh phúc được đến tháng 08/2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, bởi ông Đ thường xuyên ăn nhậu, lười lao động, nghiện ma túy, bà có khuyên ngăn ông từ bỏ nhưng ông không nghe lại còn nhiều lần đánh đập bà, bà không thể chịu đựng được, nên đã ly thân với ông Đ từ tháng 6/2023 đến nay. Trong thời gian ly thân gia đình có hàn gắn nhưng không thành. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà xin ly hôn với ông Đ.

Về quan hệ con chung: Bà với ông Đ có 02 con chung: 1/ Lê Khánh H, sinh ngày 03/02/2020; 2/ Lê Đức A, sinh ngày 13/01/2022. Hiện 02 con chung do bà nuôi. Khi ly hôn, bà yêu cầu tiếp tục nuôi và không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: Bà với ông Đ không có tài sản chung.

Về quan hệ nợ chung: Bà với ông Đ không có nợ chung.

Tòa án đã thông báo hợp lệ cho ông Lê Khánh Đ để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, bà N vắng mặt, nhưng có đơn bảo lưu ý của mình. Riêng ông Đ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng ông vẫn vắng mặt.

Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bà N: Mâu thuẫn giữa bà N với ông Đ đã thật sự trầm trọng; bởi ông Đ chơi bời, ăn nhậu, nghiện ma túy…Bà N1 khuyên nhưng ông không sửa chữa, lại chòn chữi mắn đánh đập bà N1. Khi Tòa án triệu tập hòa giải thì ông vắng mặt, chứng tỏ ông không quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm, không muốn duy trì hôn nhân; về 02 con chung hiện còn nhỏ, đang do bà N1 nuôi, nên đề nghị HĐXX chấp nhận cho bà N1 ly hôn và được tiếp tục nuôi 02 con chung; về tài sản, nợ chung: Không.

Quan điểm của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Bà N1 – ông Đ chung sống có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống ông Đ thường xuyên ăn nhậu, nghiện ma túy, đánh đập bà, nên bà N1 xin ly hôn là có căn cứ. Về con chung: Lê Khánh H, Lê Đức A, từ nhỏ đã do bà N1 nuôi, đề nghị HĐXX chấp nhận giao 02 con chung cho bà N1 tiếp tục nuôi; về tài sản chung, nợ chung không xem xét. Từ phân tích trên đề nghị HĐXX xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên. HĐXX nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyệt khởi kiện ly hôn với ông Đ là thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; ông Đ có địa chỉ cư trú tại xã L, huyện T, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền. Ông Đ được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên HĐXX xét xử vắng mặt theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: B – ông Đ kết hôn và chung sống với nhau vào năm 2019, hôn nhân có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn trễ hạn số 44 ngày 08/8/2022, nên xem là hôn nhân hợp pháp.

Tại phiên tòa, bà N1 bảo lưu ý kiến của mình, thể hiện do ông Đ thường xuyên ăn nhậu, nghiện ma túy lại còn có hành vi đánh đập bà nhiều lần, bà không thể chịu đựng được nữa, nên ly thân nhau từ tháng 6/2023 đến nay.

Qua trình bày của bà N1, mặc dù ông Đ vắng mặt, nhưng tại các biên bản xác minh vào các ngày 08/11/2023, 10/11/2023 của Tòa án thể hiện: Hôn nhân giữa bà N1 – ông Đ đã thật sự mâu thuẫn từ hơn 01 năm nay, bởi lỗi hoàn toàn do ông Đ ăn nhậu, không quan tâm vợ con, mặc dù là cha mẹ có khuyên ngăn nhưng Đ không nghe, nên bà N1 bỏ nhà và ly thân với ông Đ, gia đình có đứng ra hàn gắn nhưng không thành, khã năng đoàn tụ của hai người là không thể…

Với những chứng cứ thu thập vừa nêu, quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bà N1 tại phiên tòa. Xét thấy trình bày của bà N1 là có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa bà N1 – ông Đ đã thật sự trầm trọng; đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, HĐXX nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N1.

. Về quan hệ con chung: Hai cháu Lê Khánh H, Lê Đức A từ trước nay do bà N1 nuôi, hiện hai cháu còn nhỏ. T cám giữa 02 cháu với bà N1 đã thật sự gắn bó. Để không xáo trộn về tâm sinh lý của 02 cháu cũng như tạo điều kiện cho 02 cháu phát triển tốt về sau, HĐXX nghĩ nên chấp nhận giao 02 cháu H, Anh cho bà N1 tiếp tục nuôi là hoàn toàn phù hợp.

HĐXX cũng giải thích cho bà N1 biết: Trong thời gian nuôi con, bà N1 cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng tại phiên tòa bà N1 không yêu cầu, nên HĐXX công nhận sự tự nguyện.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà N1 khai bà với ông Đ không có tài sản chung và không có nợ chung. Tuy nhiên do ông Đ vắng mặt, nên HĐXX không xem xét và không đề cặp ở phần quyết định. Nếu sau này ông Đ có chứng cứ khác chứng minh có tài san chung, có nợ chung và ông Đ có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bà Trà Thị Thu N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; các bên không phải chịu án phí nào khác.

Vì các lẽ trên;

UY T ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Trà Thị Thu N.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trà Thị Thu N được ly hôn với ông Lê Khánh Đ.

Về quan hệ con chung: Bà Trà Thị Thu N được tiếp tục nuôi 02 con chung: 1/ Lê Khánh H, sinh ngày 03/02/2020; 2/ Lê Đức A, sinh ngày 13/01/2022.

Công nhận tự nguyện của bà N không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà N1 cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông ĐăngUnHU2ng trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về án phí: Bà Trà Thị Thu N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010254 ngày 06/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn (bà N nộp đủ).

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/12/2023), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ