vanban.org

Bản án 67/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh S.

Về quan hệ hôn nhân: Anh S được ly hôn với chị L. Về nuôi con chung: Anh S trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên T, sinh ngày 30-4-2010. Hiện anh S đang nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thanh S- Huỳnh Ánh L"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh S.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 67/2023/HNGĐ-ST
Ngày 20 - 4 - 2023
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Bé Thi.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Quang Thái.

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 548/2022/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh S, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Khóm S, thị trấn N, huyện S, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Chị L, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Khóm S, thị trấn N, huyện S, tỉnh An Giang.

(Anh S có mặt; chị L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện và tờ tự khai đề ngày 14-10-2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh S trình bày:

Anh và chị L tự tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện S, tỉnh An Giang vào năm 2010. Thời gian đầu, anh chị chung sống rất hạnh phúc nhưng đến tháng 12/2017 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân là do anh chị bất đồng với nhau về quan điểm sống và kinh tế tiền bạc, vợ chồng thường xuyên cự cãi nên chị L đã bỏ đi từ tháng 12/2017 đến tháng 2/2019 chị L quay trở về nhà cha mẹ ruột của chị L để sống chứ không sống cùng anh, sau đó chị L tiếp tục bỏ đi cho đến nay. Anh và chị L cũng nhiều lần hàn gắn lại nhưng vẫn không có kết quả. Từ tháng 12/2017 anh và chị L đã sống ly thân cho đến nay. Nay anh yêu cầu ly hôn với chị L.

Về con chung: Anh và chị L có 01 con chung tên T, sinh ngày 30-4-2010. Hiện cháu T đang sống với anh. Khi ly hôn, anh yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, không yêu cầu chị L cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Không có.

Nợ chung: Anh và chị L không có nợ chung.

Đối với bị đơn chị L: Tòa án nhân dân huyện S đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời triệu tập chị L tham gia phiên họp hai lần hợp lệ, nhưng chị vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp lời khai cho Tòa án.

Tại phiên tòa, anh S có mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; chị L vắng mặt không có lý do.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tham dự phiên tòa:

- Về tố tụng, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh S, cho anh S ly hôn với chị L, giao con chung tên T, sinh ngày 30-4-2010 cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng; buộc anh S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình; bị đơn là chị L cư trú tại huyện S, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Xét quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh S và chị L là hôn nhân hợp pháp, anh chị chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện S, tỉnh An Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 09-6-2010. Thời gian đầu, anh chị chung sống rất hạnh phúc nhưng đến tháng 12/2017 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân là do anh chị bất đồng với nhau về quan điểm sống và kinh tế tiền bạc, vợ chồng thường xuyên cự cãi, anh chị cũng nhiều lần tự hàn gắn để đoàn tụ lại với nhau nhưng vẫn không có kết quả nên cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 12/2017 cho đến nay. Xét thấy, hôn nhân giữa anh Sang, chị L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh S là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Anh S, chị L có 01 con chung tên T, sinh ngày 30-4-2010. Xét thấy, hiện nay cháu T đang sống chung với anh S và được anh chăm sóc, nuôi dưỡng chu đáo; để ổn định cuộc sống cho cho cháu và cũng theo nguyện vọng của cháu T được sống với anh S nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu T cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Cấp dưỡng cho con: Anh S không yêu cầu chị L cấp dưỡng cho cháu T, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Anh A trình bày, anh và chị L không có nợ chung.

Về án phí: Anh S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2014/UBTVQH 14 của Quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh An Giang là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều: 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh S.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh S được ly hôn với chị L.

2. Về nuôi con chung: Anh S trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên T, sinh ngày 30-4-2010. Hiện anh S đang nuôi con.

Chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011395 ngày 09-12-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh An Giang, xem như anh S đã nộp xong án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Anh S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ