vanban.org

Bản án 67/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tòng Thị L và anh Lò Văn Đ.

Về con chung: Giao con chung là cháu Lò Thị Thu H; sinh ngày 01/6/2018 cho chị Tòng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Thu H thành niên hoặc khi có thay đổi khác. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tòng Thị L và Lò Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tòng Thị L và anh Lò Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 67/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30/6/2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tố L.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lù Văn Lả.

Ông Cà Văn Danh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hoà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên;

Ngày 30 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 108/2023/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2023/QĐXXST- HNGĐ, ngày 25 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2023/QĐST- HNGĐ ngày 05/6/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tòng Thị L; sinh năm 1998.

Địa chỉ: Bản N P 2, xã M N, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do).

2. Bị đơn: Anh Lò Văn Đ; sinh năm 1997.

Địa chỉ: Đội 7 (nay là bản N P), xã T H, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên (vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06/3/2023 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Tòng Thị L trình bày:

1. Về hôn nhân: Chị và anh Lò Văn Đ có đăng ký kết hôn tại UBND xã T H, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên vào ngày 21/5/2018 trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, sau đó đến tháng 9 năm 2020 thì luôn phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do quan điểm sống bất đồng, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không có tiếng nói chung. Mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng mâu thuẫn không giải quyết được. Chị và anh Đ đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2022 cho đến nay, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, vì vậy chị L đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên giải quyết cho chị ly hôn với anh Lò Văn Đ.

2. Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là cháu Lò Thị Thu H; sinh ngày 01/6/2018. Từ khi ly hôn đến nay chị L là người nuôi con chung. Nguyện vọng sau khi ly hôn chị L sẽ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Thu H cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên hoặc khi có thay đổi khác. Về vần đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết.

3. Về tài sản riêng; tài sản chung; nợ phải trả; nợ lấy về và diện tích ruộng nương: Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 06/3/2023 chị Tòng Thị L nộp đơn khởi kiện về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên đối với anh Lò Văn Đ có địa chỉ tại: Đội 7 (nay là bản N P), xã T H, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên. Sau khi nhận đơn khởi kiện, Tòa án đã lập Biên bản ghi nhận ý kiến của người khởi kiện yêu cầu về lựa chọn hòa giải và hòa giải. Tòa án đã có giấy mời chị Tòng Thị L và anh Lò Văn Đ đến phiên hòa giải đối thoại vào ngày 14/3/2023 nhưng anh Đ vắng mặt không lý do, chị L đã có đơn Đề nghị Tòa án chấm dứt việc hòa giải đối thoại và chuyển vụ việc sang giải quyết theo thủ tục dân sự. Tòa án đã lập Biên bản chấm dứt việc Hòa giải và đã Thông báo về việc chấm dứt việc Hòa giải cho các đương sự.

Ngày 15/3/2023 chị L đã nộp tiền tạm ứng án phí theo Điều 146 Bộ luật tố tụng Dân sự (sau đây ghi tắt là BLTTDS) và nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, cùng ngày Tòa án đã thụ lý vụ án để giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị L theo Điều 195 BLTTDS.

Về thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu Ly hôn giữa chị Tòng Thị L và anh Lò Văn Đ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Các vấn đề khác: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Lò Văn Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án liên quan đến việc giải quyết vụ án nhưng anh Đ vẫn không đến tham gia phiên hòa giải và tham gia phiên tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của anh Đ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung.

[2.1] Xét về hôn nhân: Chị Tòng Thị L và anh Lò Văn Đ kết hôn năm

2018 tại UBND xã T H, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên. Như vậy, hôn nhân giữa chị L và anh Đ đảm bảo về điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình và là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống hai bên không hiểu nhau và luôn sảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp quan điểm sống bất đồng, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không có tiếng nói chung. Đến tháng 09/2022 chị L và anh Đ sống ly thân, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, vì vậy chị L tha thiết có nguyện vọng xin được ly hôn với anh Đ.

Xét thấy, sau khi thụ lý vụ án anh Đ không trả lời thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và cũng không đến tham gia phiên hòa giải để trình bày quan điểm của mình, điều đó đã thể hiện anh Đ chưa thực sự có thiện chí đoàn tụ. Mặt khác, anh chị đã sống ly thân với nhau từ tháng 09/2022 cho đến nay, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Vì vậy, không có căn cứ để chứng minh rằng cuộc sống chung của chị L và anh Đ vẫn hòa thuận, hạnh phúc. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị L và áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, xử cho ly hôn giữa chị Tòng Thị L và anh Lò Văn Đ.

[2.2] Xét về con chung: Chị Tòng Thị L có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Lò Thị Thu H; sinh ngày 01/6/2018. Xét thấy từ khi chị L và anh Đ sống ly thân, chị L là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Thu H, bên cạnh đó cháu Thu H còn rất nhỏ, cần mẹ chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục. Vì vậy hiện tại chị L mới là người có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. HĐXX căn cứ Điều 69 và Điều 81; Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình giao con cho chị L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Anh Đ có quyền đi lại thăm con chung không ai được cản trở.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện nuôi con của chị L.

[3] Xét về tài sản: Về tài sản riêng; tài sản chung; nợ phải trả; nợ lấy về và diện tích ruộng nương: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về nghĩa vụ chịu án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Tòng Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tòng Thị L và anh Lò Văn Đ.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lò Thị Thu H; sinh ngày 01/6/2018 cho chị Tòng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Thu H thành niên hoặc khi có thay đổi khác. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về chia tài sản chung; Tài sản riêng; Tài sản chung; Nợ phải trả; Nợ lấy về; diện tích ruộng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Tòng Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí DSST chị L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005159 ngày 15/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ B, tỉnh Điện Biên. Chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự chị Tòng Thị L và anh Lò Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án niêm yết bản án./.

Cỡ chữ