- Tranh chấp gì? án hình sự — "Anh Lê Quang Tr về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo: Lê Quang Tr (Tên gọi khác Lê Xuân Tr) 03 (Ba) năm tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2022/HSST Ngày: 29/4/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Lâm.
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thùy Linh
Ông Nguyễn Hồng Thông
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Hoàng Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 278/2021/HSST, ngày 17 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Lê Quang Tr (Tên gọi khác: Lê Xuân Tr); Giới tính: Nam; Sinh ngày: 02/02/1998 tại xã TT, huyện YT, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm 1, xã TT, huyện YT, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông: Không xác định được (cha) và bà Lê Thị S - Sinh năm 1961; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không.
- Tiền án: - Năm 2017, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 tại Bản án số 56/2017/HSST ngày 30/8/2017. Chấp hành xong ngày 14/7/2018.
Năm 2019, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS; 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 BLHS và 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự tại Bản án số 17/2019/HSST ngày 27/02/2019. Tổng hợp hình phạt 24 tháng tù. Chấp hành xong ngày 01/12/2020.
Nhân thân: Năm 2015, bị đưa vào trường giáo dưỡng số 2 theo Quyết định số 05/2015/QĐ-TA ngày 31/8/2015 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 23/01/2017.
Ngoài ra, năm 2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS tại Bản án số 280/2021/HSST ngày 27/9/2021.
Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam Xuân Hà hình phạt của bản án số 280/2021/HSST ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh . Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại : Anh Lê Văn L. Sinh năm 1994.
Trú quán: Xóm HL, xã ĐT, huyện YT, tỉnh Nghệ An.Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Hà Văn Kh, sinh năm 1999
Trú tại: Xóm TH, xã NT, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An Vắng mặt.
+ Anh Lê Văn Kh sinh năm 1990
Trú tại: Số 5, đường HD, TP ĐL, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Người Làm chứng:
+ Anh Trần Văn V, sinh năm 1995
Trú tại: Xóm NV, xã ĐT, huyện YT, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 20/3/2021, Lê Quang Tr cùng với Trần Văn V, sinh năm 1995, trú tại xóm NV, xã ĐT, huyện YT, tỉnh Nghệ An đi đến nhà nghỉ TV thuộc xã DH, huyện DC thuê phòng nghỉ. Sau đó, V gọi điện thoại cho anh Lê Văn L, sinh năm 1994, trú tại xóm HL, xã ĐT, huyện YT đến chơi. Lê Văn L đồng ý rồi điều khiển xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exciter, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 49E1-201.91(xe của anh Lê Văn Kh – anh trai L) đến nhà nghỉ gặp V và Tr. Do hết tiền tiêu xài nên Lê Quang Tr đã mượn xe máy của L để đi vay tiền. Quá trình đi, Tr nảy sinh ý định cầm cố chiếc xe máy nên Tr điều khiển xe đến gặp Hà Văn Kh, sinh năm 1999, trú tại xóm TH, xã NT, huyện NĐ, nhờ Kh tìm nơi cầm cố xe. Vì không biết nơi cầm cắm xe nên Kh dẫn Tr đến gặp Trần Quang Sống H, sinh năm 1997, trú tại xóm LL, xã NH, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Sau đó, H cùng Lê Quang Tr mang chiếc xe trên đến khu vực thị xã TH, tỉnh Nghệ An cầm cố cho một người đàn ông không quen biết với giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Số tiền này Tr tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 18/4/2021, anh Lê Văn L làm đơn tố giác gửi Cơ quan CSĐT Công an huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Quang Tr khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được.
Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự ngày 14/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exciter, sơn màu đỏ đen, biển kiểm soát 49E – 201.91, xe đã qua sử dụng, có giá trị hiện tại10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Tài sản Lê Quang Tr chiếm đoạt. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Diễn Châu đã tiến hành truy tìm vật chứng. Tuy nhiên, do không xác định được người đàn ông đã nhận cầm cắm xe của Lê Quang Tr nên không thu hồi được.
Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKSDC, ngày 03/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Lê Quang Tr về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm g, khoản 2 Điều 175, điểm s khoản 1, Điều 51, khoản 1, Điều 56 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quang Tr mức án từ 30 đến 36 tháng tù về tội “ Lạm dụng chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với hình phạt của bản án số 280/2021/HSST ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân Dân thành phố Vinh buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:Anh Lê Văn L yêu cầu Lê Quang Tr bồi thường thiệt hại chiếc xe máy là 10.000.000đồng. Hiện tại Lê Quang Tr chưa bồi thường thiệt hại cho anh Lê Văn L. Tại phiên tòa hôm nay Lê Quang Tr cũng thống nhất bồi thường cho anh Lê Văn L giá trị 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exciter, sơn màu đỏ đen, biển kiểm soát 49E – 201.91, xe đã qua sử dụng, có giá trị hiện tại 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Xét yêu cầu của người bị hại là có căn cứ cần được chấp nhận.
Căn cứ điều điểm b, khoản 1 Điều 46 BLHS, Điều 584, 585,586, 589 của Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Lê Quang Tr bồi thường cho anh Lê Văn L giá trị 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exciter, sơn màu đỏ đen, biển kiểm soát 49E – 201.91, xe đã qua sử dụng, có giá trị hiện tại 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
- Về án phí: Buộc bị cáo Lê Quang Tr phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự trong hình sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Diễn Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Quang Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp lời khai bị hại và các chứng cứ, tài liệu thu thập có tại hồ sơ vụ án: Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 20/3/2021, tại khu vực nhà nghỉ TV thuộc xã DH, huyện DC, tỉnh Nghệ An, lợi dụng lòng tin của anh Lê Văn L, Lê Quang Tr mượn 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, BKS: 49E1- 201.91 có trị giá 10.000.000 đồng, sau đó mang lên thị xã TH cắmcho một người không quen biết với giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Lê Quang Tr có 02 (hai) tiền án chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2, Điều 175 BLHS. Viện kiểm sát huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo về tội danh và Điều khoản như trên là có căn pháp luật.
Đánh giá tính chất vụ án: Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội.
Về việc đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như sau.
- Năm 2017, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 tại Bản án số 56/2017/HSST ngày 30/8/2017. Chấp hành xong ngày 14/7/2018, ra tù chưa được xóa án tích.
Năm 2019, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS; 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 BLHS; 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự tại Bản án số 17/2019/HSST ngày 27/02/2019. Tổng hợp hình phạt 24 tháng tù. Chấp hành xong ngày 01/12/2020. Ra tù chưa được xóa án tích lại phạm tội. Phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Đây là tình tiết tăng nặng định khung.
Nhân thân: Năm 2015, bị đưa vào trường giáo dưỡng số 2 theo Quyết định số 05/2015/QĐ-TA ngày 31/8/2015 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 23/01/2017.
Sau khi thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đến ngày 15/04/2021 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và đã bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS tại Bản án số 280/2021/HSST ngày 27/9/2021. Chứng tỏ bị cáo rất coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử xét cần lên một mức án nghiêm khắc đối với bị cáo và tổng hợp với hình phạt của bản án số 280/2021/HSST ngày 27/9/2021 của Tòa án thành phố Vinh để buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không có. Xét miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Văn L yêu cầu Lê Quang Tr bồi thường thiệt hại chiếc xe máy là 10.000.000 đồng. Hiện tại Lê Quang Tr chưa bồi thường thiệt hại cho anh Lê Văn L. Tại phiên tòa hôm nay Lê Quang Tr cũng thống nhất bồi thường cho anh Lê Văn L giá trị 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exciter, sơn màu đỏ đen, biển kiểm soát 49E – 201.91, xe đã qua sử dụng, đây là chiếc xe do anh Lê Văn Kh cho Lê Văn L và gia đình L sử dụng và có hợp đồng mua bán đứng tên Lê Văn Kh. Quá trình L Sử dụng L đã bị Lê Quang Tr lợi dụng lòng tin đem đi cầm có lấy tiền tiêu xài, chiếc xe có giá trị hiện tại 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Xét yêu cầu của anh L là có căn cứ cần được chấp nhận.
Căn cứ điều điểm b, khoản 1 Điều 46 BLHS, Điều 584, 585,586, 589 của Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Lê Quang Tr bồi thường cho anh Lê Văn L 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exciter, sơn màu đỏ đen, biển kiểm soát 49E – 201.91.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g, khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1, Điều 51Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Lê Quang Tr (Tên gọi khác Lê Xuân Tr) 03 (Ba) năm tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ khoản 1 điều 56 BLHS tổng hợp hình phạt chung với Bản án số 280/2021/HSST ngày 27/9/2021 của tòa án nhân dân thành phố Vinh đã xử phạt Lê Quang Tr 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/04/2021.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điều điểm b, khoản 1 Điều 46 BLHS, Điều 584, 585,586, 589 của Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Lê Quang Tr bồi thường cho anh Lê Văn L 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exciter, sơn màu đỏ đen, biển kiểm soát 49E – 201.91.
- Về án phí: Căn cứ vào điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Buộc bị cáo Lê Quang Tr phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự trong hình sự
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại, người có quyền ợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tòa án niêm yết hợp lệ bản án.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thị hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Tr êng hîp b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i ĐiÒu 2 Luật thi hµnh ¸n d©n sù thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự cã quyÒn tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i c¸c ĐiÒu 6, 7 vµ 9 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù; thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i ĐiÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù . Nơinhận:
| - Bị cáo;Bị hại - Những người TGTT; - VKS huyện Diễn Châu; - VKS tỉnh Nghệ An - TAND tỉnh Nghệ An ; - Công an huyện (NVCS); - Chi cục THA dân sự h.Diễn Châu; - THA hình sự; - Sở tư pháp; - Lưu hồ sơ + Lưu vp | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Đình Lâm |