- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2022/HS-PT Ngày: 13/6/2022 |
NHÂN DANH
N ỚC CỘNG H A
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
T A ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Vũ Thị Thanh Hòa
Các Thẩm phán: Ông Vũ Đức Hùng
Ông Trần Phước Hiệu
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: ông Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử công khai, phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 50/2022/TLPT-HS, ngày 05 tháng 5 năm 2022 do Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2022/HS-ST, ngày 04 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2022/QĐXXPT-HS ngày 31 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: LỤC MINH T (tên gọi khác T1), sinh năm: 1998; tại: Bình Thuận; Nơi ĐKHKTT: khu phố 03, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện nay: khu phố 05, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: tài xế; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm S, sinh năm 1972 và bà: Lục Thị K, sinh năm 1978; Vợ con: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 26/5/2020 bị Chủ tịch UBND thị trấn L ban hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo không kháng cáo: Trần Quốc K, sinh năm 1996, HKTT: thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lục Minh T và Trần Quốc K là đối tượng nghiện ma tuý đá. Trong thời gian từ ngày 16/8/2021 đến ngày 02/9/2021, Lục Minh T và Trần Quốc K đã thực hiện hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 10 giờ 25 phút ngày 16/8/2021, tại vòng xoay bến xe Minh Nghĩa thuộc khu phố 05, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy- Công an tỉnh Bình Thuận phát hiện bắt quả tang Lục Minh T cấp giấu ma túy trong túi quần trước bên phải, đang tìm nơi sử dụng. Lục Minh T khai nhận đó là ma túy đá T mua của một người tên Gơ (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 300.000 đồng. Lực lượng chức năng thu giữ của T gói nylon không màu được hàn kín, kích thước (02 x 04)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng và một điện thoại Vsmart màu xanh. Tại biên bản kết luận giám định số 1050/KLGĐ-PC09 ngày 31/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,5496 gam là Methamphetamine.
Lần thứ hai: Vào lúc 23 giờ 45 phút ngày 27/8/2021, tại khu vực gần nhà trọ Bảo Sơn thuộc khu phố 06, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; tổ tuần tra Công an thị trấn L phát hiện Trần Quốc K đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 86B1-223.30 có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra, phát hiện trong cốp xe có 01 gói nylon không màu, được hàn kín 02 đầu, kích thước (0,8 x 3,5)cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Trần Quốc K khai nhận đó là ma túy đá mua của một người tên P (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 200.000 đồng để sử dụng. Lực lượng chức năng tiến hành thu giữ gói ma túy và xe honda loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 86B1-223.30. Tại bản kết luận giám định số 1099/KLGĐ-PC09 ngày 10/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1155 gam, là Methamphetamine.
Lần thứ ba: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/9/2021, tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Công an thị trấn L kiểm tra nhà ở của Cao Thành L tại khu phố 06, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; phát hiện bắt quả tang Trần Quốc K đang cất giấu 02 gói nylon (01 gói kích thước 1,5cm x 3,5cm và 01 gói kích thước 3cm x 4cm) bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Trần Quốc K khai nhận đó là ma túy do K góp 700.000 đồng, L góp 100.000 đồng và Lục Minh T góp 200.000 đồng thành 1.000.000 đồng nhờ Lục Minh T mua của một người tên P (không rõ nhân thân, lai lịch) với mục đíc để cả 03 sử dụng vào ngày lễ 02-9. Khi mua ma túy của P, T đưa trước cho người bán ma túy số tiền 200.000 đồng để nhận ma túy và đi đến khu vực đường Cao Bá Quát thị trấn L cất giấu xuống dưới đất. Một lúc sau, Lục Minh T điều khiển xe mô tô hiệu Yamah loại Sirius màu trắng, biển số 86B1-548.15 chở Cao Thành L đến khu vực cất giấu ma túy, L đưa cho T số tiền 800.000 đồng còn T xuống xe dùng chân trái hất từ dưới đất lên 01 gói má túy, T ra hiệu cho L lấy ma túy mang về nhà L giao cho K. Sau khi có ma túy, K phân chia thành hai gói nhỏ cất giấu vào trong quần lót K đang mặc. Tại bản kết luận giám định số 1097/KLGĐ-PC09 ngày 09/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận mẫu M gửi giám định có khối lượng 1,1438 gam, là Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
- Số vật chứng gồm:
+ 01 gói nylon không màu, được hàn kín, kích thước (02 x 04)cm đã cắt lấy mẫu và 0,4825 gam mẫu vật còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 1050; 01 gói nylon đã cắt lấy mẫu và 0,0668 gam mẫu vật còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 1099 và các gói nylon đã cắt lấy mẫu và 1,16948 gam mẫu vật còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 1097.
+ 01 bộ dụng cự sử dụng ma túy; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen và 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Sirius màu trắng biển số 86B1-548.15
Toàn bộ số vật chứng trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T ra Quyết định chuyển vật chứng, chuyển từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đến Chi cục thi hành án dân sự huyện T bảo quản, chờ xử lý.
Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Vsmart màu xanh lục của Lục Minh T do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho T.
Đối với chiếc xe mô tô hiệu Honda loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 86B1-223.30 là của bà Dương Thị Ngọc L (mẹ ruột của Trần Quốc K), K sử dụng xe làm phương tiện đi mua ma túy bà L không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại chiếc xe trên cho bà L.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2022/HS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T đã quyết định:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 02 Điều 249; Điểm s khoản 1Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Bị cáo Lục Minh T, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Lục Minh T 06 (sáu) năm. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên tịch thu tiêu hủy vật chứng, tịch thu vật chứng sung quỹ nhà nước, về án phí và quyền kháng cáo.
Ngảy 04 tháng 3 năm 2022, bị cáo Lục Minh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ý kiến của Kiểm sát viên: xác định cấp sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người và đúng tội. Hình phạt của cấp sơ thẩm đối với bị cáo là phù hợp.
Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được thêm tình tiết giảm nhẹ nào khác so với cấp sơ thẩm. Vì vậy, bác yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Chủ thể kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức đơn kháng cáo của bị cáo Lục Minh T phù hợp với quy định pháp luật nên có cơ sở để được xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cho rằng bản án sơ thẩm xét xử là đúng người, đúng tội và không oan. Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 16/8/2021 đến ngày 02/9/2021, Lục Minh T đã 02 lần thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng. Cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 10 giờ 25 phút ngày 16/8/202, tại vòng xoay bến xe Minh Nghĩa thuộc khu phố 05, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy- Công an tỉnh Bình Thuận phát hiện bắt quả tang Lục Minh T cấp giấu ma túy trong túi quần trước bên phải, đang tìm nơi sử dụng. Khối lượng ma túy T tàng trữ trái phép mục đích để sử dụng bị thu giữ qua giám định là 0,5496 gam là Methamphetamine.
- Lần thứ hai: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/9/2021, tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Công an thị trấn L kiểm tra nhà ở của Cao Thành L tại khu phố 06, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; phát hiện bắt quả tang Trần Quốc K đang cất giấu 02 gói nylon (01 gói kích thước 1,5cm x 3,5cm và 01 gói kích thước 3cm x 4cm) bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Xác định được số ma túy thu giữ của Trần Quốc K là do bị cáo Lục Minh T, Trần Quốc K và Cao Thành L góp tiền mua chung để sử dụng. Khối lượng ma túy Lục Minh T, Cao Thành L và Trần Quốc K tàng trữ trái phép mục đích để sử dụng bị thu giữ qua giám định là 1,1438 gam là Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo là cố ý, đã trực tiếp xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy; xâm phạm tính mạng, sức khỏa của con người được pháp luật bảo vệ và gây ảnh xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với trình tiết định khung hình phạt “phạm tội 2 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 02 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: mức hình phạt 06 (sáu) năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như nhân thân của bị cáo. Mức hình phạt này đủ để trừng trị, giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật; các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và đấu tranh phòng chống tội phạm chung. Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cũng không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào khác.
Do vậy, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
[4] Về án phí phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2022/HS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
2. Căn cứ: điểm b khoản 02 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
3. Xử phạt: bị cáo Lục Minh T 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
4. Về án phí hình sự: căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lục Minh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm
5. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2022/HS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKS, CA, TA, THA huyện T; - Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận; - Những người tham gia tố tụng; - PV06 - Công an tỉnh Bình Thuận; - Lưu: hồ sơ, Tổ HCTP, Tòa hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thanh Hòa |