vanban.org

Bản án 67/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 29/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Võ Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù và được trừ đi thời gian bị tam giữ (từ ngày 15/11/2022 đến ngày 21/11/2022). Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BẢN ÁN - P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2022/HS-ST
Ngày 29-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H,TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Thị Diễm Thúy;

2. Ông Nguyễn Văn Trạng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Chiếm - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2022/TLST-HS, ngày 09 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2022/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:

Võ Văn P, sinh ngày 04/6/1990 tại Đồng Tháp; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã B, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Võ Văn C (chết) và bà Phạm Thị S, sinh năm 1961; gia đình có 05 chị, em, bị cáo là con út; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Chưa có; tiền án: Chưa có; tạm giữ: Từ ngày 15/11/2022 đến ngày 21/11/2022 hủy bỏ biện pháp tạm giữ; tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn K, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp L, xã B, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người chứng kiến: Nguyễn Trần X, sinh năm 1999 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Khóm 2, phường Z, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 15 phút, ngày 15/11/2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an thành phố H phối hợp với Công an phường Z, thành phố H tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn phường. Khi đến đường Lý Thường Kiệt, thuộc khóm 2, phường Z phát hiện Võ Văn P, đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36M2 - 4689 có dấu hiệu nghi vấn nên tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện P đang làm rơi xuống mặt đường 01 (một) bịch nylon màu trắng được hàn kín, bên trong bịch nylon có nhiều khối tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy), chưa xác định trọng lượng nên cơ quan Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ: 01 (một) bịch nylon màu trắng được hàn kín, bên trong bịch nylon có nhiều khối tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy), chưa xác định trọng lượng; 01 (một) xe mô tô loại Wave, màu đen, mang biển kiểm soát 36M2 - 4689, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong.

Tại bản kết luận giám định số: 1057/KL-KTHS, ngày 17/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự (KTHS) Công an tỉnh Đồng Tháp. Kết luận: “Tinh thể rắn chứa trong 01 (một) bịch nylon màu trắng hàn kín, được niêm phong trong túi niêm phong kí hiệu PS3, mã số 2005273 nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,234 gam, loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.

Quá trình điều tra, Võ Văn P thừa nhận ma túy bị bắt quả tang là của P. Vào ngày 15/11/2022, P mượn xe mô tô biển kiểm soát 36M2-4689 của anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1986, ngụ ấp L, xã B, huyện H và điều khiển đến phường Z, thành phố H mua ma túy của một người phụ nữ, không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể, với giá 190.000 đồng, mục đích để sử dụng.

Đối với P tiện xe mô tô loại Wave, biển kiểm soát 36M2-4689 do Võ Văn P điều khiển đi mua ma túy. Qua điều tra thể hiện xe mô tô này là của anh Nguyễn Văn K là chủ sở hữu. Anh K không biết P mượn, điều khiển xe đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 36M2-4689 cho anh K.

Quá trình điều tra, Võ Văn P đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đã thực hiện.

Tại bản cáo trạng số: 01/CT-VKSTPHN, ngày 08 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Võ Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Võ Văn P đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Võ Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Văn P mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với việc Võ Văn P khai nhận số lượng ma túy mua của một người phụ nữ, không biết rõ họ tên và địa chỉ tại thành phố H với giá 190.000 đồng. Qua xác minh không rõ đối tượng, chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Về vật chứng vụ án:

Đối với P tiện xe mô tô loại Wave, biển kiểm soát 36M2-4689 do Võ Văn P điều khiển đi mua ma túy. Qua điều tra, thể hiện xe mô tô này là của anh Nguyễn Văn K là chủ sở hữu. Anh K không biết P mượn, điều khiển xe đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho anh K. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hịnh sự, tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 1084, ngày 15/11/2022, có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp” và chữ ký, ghi họ tên Nguyễn Văn Thắng Em, Tạ Hoài Trung, Nguyễn Văn Sóc, và in hai dấu vân tay của Võ Văn P.

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 15/11/2022, lời khai của người chứng kiến và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật hình sự, bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, vì muốn thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi cất giấu bất hợp pháp chất ma túy để nhằm mục đích sử dụng, cụ thể là:

Vào khoảng 14 giờ 15 phút, ngày 15/11/2022, tại đoạn đường Lý Thường Kiệt, thuộc khóm 2, phường Z, thành phố H, Võ Văn P, đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36M2 - 4689 và đang cất giấu bất hợp pháp trên người (cầm trên tay trái) 01 (một) bịch nylon màu trắng được hàn kín, bên trong bịch nylon có nhiều khối tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy), chưa xác định trọng lượng thì bi lực lượng Công an phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 (một) bịch nylon màu trắng được hàn kín, bên trong bịch nylon có nhiều khối tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy), chưa xác định trọng lượng.

Tại bản kết luận giám định số: 1057/KL-KTHS, ngày 17/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự (KTHS) Công an tỉnh Đồng Tháp. Kết luận: “Tinh thể rắn chứa trong 01 (một) bịch nylon màu trắng hàn kín, được niêm phong trong túi niêm phong kí hiệu PS3, mã số 2005273 nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,234 gam, loại Methamphetamine ”.

Võ Văn P thừa nhận ma túy bị bắt quả tang là của P mua của một người phụ nữ, không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể, với giá 190.000 đồng, mục đích để sử dụng.

Căn cứ lời thừa nhận của bị cáo, Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 15/11/2022, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã chứng minh Võ Văn P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,234 gam loại Methamphetamine.

Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Võ Văn P đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…

a) …;

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa P.

Như chúng ta đã biết, hậu quả của việc sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho xã hội rất nặng nề, nó đang làm hủy hoại sức khỏe của chính người sử dụng, xói mòn sự tồn tại và phát triển của loài người, tàn phá cuộc sống yên vui gia đình của người sử dụng, gây tác hại trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định và phát triển của xã hội.

Hiện nay, tình trạng tàng trữ ma túy để sử dụng và mua bán trái phép trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố H nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với tính chất hết sức phức tạp. Nhằm để ổn định tình hình chính trị tại địa P, góp phần vào công cuộc phòng chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Về nhân thân của bị cáo:

Bị cáo chưa có tiền sự, tiền án, nhưng do nghiện ma túy và để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Điều đó thể hiện bị cáo thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể biện bản chất xem thường pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.

Đối với việc Võ Văn P khai nhận số lượng ma túy mua của một người phụ nữ, không biết rõ họ tên và địa chỉ, tại thành phố H với giá 190.000 đồng. Qua xác minh không rõ đối tượng, chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Về vật chứng vụ án:

Đối với P tiện xe mô tô loại Wave, biển kiểm soát 36M2-4689 do Võ Văn P điều khiển đi mua ma túy. Qua điều tra, thể hiện xe mô tô này là của anh Nguyễn Văn K là chủ sở hữu. Anh K không biết P mượn, điều khiển xe đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho anh K. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với khối lượng ma túy liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo được để trong 01 (một) phong bì niêm phong số 1084, ngày 15/11/2022, có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp” và chữ ký, ghi họ tên Nguyễn Văn Thắng Em, Tạ Hoài Trung, Nguyễn Văn Sóc, và in hai dấu vân tay của Võ Văn P, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Võ Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Võ Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù và được trừ đi thời gian bị tam giữ (từ ngày 15/11/2022 đến ngày 21/11/2022).

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 1084, ngày 15/11/2022, có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp” và chữ ký, ghi họ tên Nguyễn Văn Thắng Em, Tạ Hoài Trung, Nguyễn Văn Sóc, và in hai dấu vân tay của Võ Văn P.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/12/2022).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Võ Văn P phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/12/2022). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ