- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Đinh Quang T cho Ủy ban nhân dân xã Đồng Thái, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2022/HS-ST Ngày 30-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Văn Thư
Ông Vũ Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Chính - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Lại Văn Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2022/TLST-HS ngày 25/7/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2022/QĐXXST-HS ngày 18/8/2022 đối với bị cáo:
Đinh Quang T sinh ngày 14/11/1992 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Bạ, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Quang Í và bà Lê Thị X; có vợ Nguyễn Thị P và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/02/2022; có mặt.
- Bị hại: Anh Lê Quang H sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Đình Ngọ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Bà Lê Thị C sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Anh Lê Quang H sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 05 phút ngày 04/10/2021, Đinh Quang T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 34B3-601.10 theo đường liên xã Lê Lợi đi xã Quốc Tuấn để về nhà, với tốc độ khoảng 50km/h. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn Đoàn Tiến, xã Đặng Cương, huyện An Dương, T điều khiển xe mô tô bằng tay phải, tay trái lấy điện thoại di động trong túi quần ra xem giờ. Do mải xem giờ nên T không chú ý quan sát đoạn đường phía trước nên xe mô tô do T điều khiển đã đi lấn sang phần đường ngược chiều, phần để chân phía trước bên trái xe mô tô của T đã va chạm vào lốc máy bên trái xe mô tô biển kiểm soát 16R7-4710 do anh Lê Quang H điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả xe mô tô của T đổ trên phần đường của anh Hải, rê trên mặt đường 16m mới dừng lại, xe mô tô của anh Hải đổ rê trên lề đường đâm vào gốc cây bàng, anh Hải văng xuống mương An Kim Hải chết tại chỗ, T bị thương nhẹ.
Sau khi xảy ra vụ tai nạn, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, trưng cầu giám định để xác định dấu vết, chiều hướng, trạng thái, vị trí va chạm trên mặt đường, giữa xe mô tô biển kiểm soát 34B3-601.10 với xe mô tô biển kiểm soát 16R7-4710.
Kết quả khám nghiệm xác định: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ là đoạn đường liên xã Lê Lợi - Quốc Tuấn thuộc thôn Đoàn Tiến, xã Đặng Cương, phần đường xe chạy được giới hạn bằng vạch sơn liên tục màu trắng. Đường rộng 6,32m, trải nhựa áp phan nhẵn phẳng, thẳng, chia làm 02 chiều đường xe chạy, chiều đường xã Lê Lợi đi xã Quốc Tuấn và ngược lại, được phân định bằng vạch kẻ sơn không liên tục. Tại bên phải mép đường xã Quốc Tuấn đi xã Lê Lợi có lề đường là bãi đất trống rộng 2,2m, tiếp đó là mương An Kim Hải. Lấy mép vạch sơn liên tục màu trắng bên phải chiều đường xã Quốc Tuấn đi xã Lê Lợi làm mép đường chuẩn. Có 01 đám dấu vết cày xước dài 16,4m, không liên tục, chiều hướng từ xã Lê Lợi về phía xã Quốc Tuấn, tại phần đường xã Quốc Tuấn đi xã Lê Lợi, điểm đầu và điểm cuối của đám dấu vết lần lượt cách mép đường chuẩn 2,83m và 1,92m. Một đám dấu vết máu, kích thước trong diện 1,86m x 1,2m, trên mặt đường, tại phần đường xã Quốc Tuấn đi xã Lê Lợi. Đám dấu vết trượt xước, xô lệch đất đá dài 6,04m liên tục trên mặt đường, lề đường, chếch từ giữa đường về phía mương An Kim Hải, tại phần đường xã Quốc Tuấn đi xã Lê Lợi, điểm đầu của đám dấu vết cách mép đường chuẩn 0,23m, điểm cuối đám dấu vết tiếp xúc với cây bàng ở lề đường. Trên cây bàng có đám dấu vết cày, dập, tróc vỏ, kích thước trong diện 0,32m x 0,22m, chiều hướng chếch từ mặt đường về phía mương An Kim Hải, điểm thấp nhất của đám dấu vết cách gốc cây 0,4m. Một xe mô tô biển kiểm soát 16R7-4710 đổ nghiêng trái trên mặt đường, tại phần đường xã Quốc Tuấn đi xã Lê Lợi.
Khám xe mô tô biển kiểm soát 34B3-601.10, có các dấu vết: Ốp nhựa đầu xe bên phải bị gãy rời, trầy xước. Cụm đèn tín hiệu phía trước bên phải bị mài xước, khuyết vỡ. Chân phanh bên phải có đám dấu vết mài vẹt kim loại. Giá để chân phía trước bên phải bị cong vênh, đầu giá để chân này có dấu vết mài cao su, mài xước kim loại. Đầu ghi đông bên phải có đám dấu vết mài xước kim loại. Mặt ngoài cánh yếm ngoài bên phải có đám dấu vết trượt xước màu đen. Cần số phía trước, phía sau bị đẩy cong từ trước về sau. Ốp cao su sau giá để chân trước bên trái không còn; tại mặt trước giá để chân này có đám dấu vết mài xước, mất sơn. Tay dắt bên phải có đám dấu vết mài xước. Tay dắt bên trái có đám dấu vết trượt xước.
Khám xe mô tô biển kiểm soát 16R7-4710, có các dấu vết: Trục trước, giảm sóc bánh trước bên phải bị cong gập từ trước về sau, từ phải sang trái. Cụm đèn pha phía trước bị vỡ khuyết. Ốp ngoài giảm sóc bánh trước bên phải có đám dấu vết trượt, xước bám dính tạp chất màu đen và vật chất dạng vỏ cây. Mặt lăn và má lốp trước bên trái có nhiều vết trượt, bền mặt bám dính tạp chất màu nâu, trắng dạng bột đất đá. Mặt ngoài giảm sóc bánh trước bên trái bám dính tạp chất màu nâu dạng bùn đất. Mặt trước đầu bu lông phía dưới giảm sóc bánh trước bên trái có đám dấu vết mài xước, bền mặt bám dính tạp chất màu nâu dạng bùn đất. Cạnh trước đầu ghi đông bên trái có đám dấu vết mài cao su. Cần số phía trước và giá để chân phía trước bên trái bị cong vênh, ốp cao su giá để chân này không còn.
Quá trình điều tra, ông Lương Kim H, sinh năm 1963, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện A đã giao nộp 01 chiếc USB chứa 01 video liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường bộ; Đinh Quang T giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương.
Tại Bản kết luận giám định số 74/GĐCH-PC09 ngày 20/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Dấu vết cong vênh biến dạng theo chiều từ trước về sau, đệm cao su phía ngoài bị mất để lộ phần kim loại phía bên trong bị mài vẹt, bề mặt bám dính tạp chất màu nâu đỏ (dạng bụi đất) tại bàn để chân phía trước bên trái trên xe mô tô biển kiểm soát 34B3-601.10 phù hợp với dấu vết mài vẹt kim loại, bề mặt bám dính tạp chất màu đen (dạng cao su), màu nâu đỏ (dạng bụi đất) theo chiều từ trước về sau tại mặt ngoài, bên trái lốc máy xe mô tô biển kiểm soát 16R7-4710. Dấu vết va chạm này được hình thành khi hai phương tiện di chuyển ngược chiều và chạm với nhau.
Tại bản Kết luận giám định số 204/2021/GĐPY ngày 12/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Nguyên nhân anh Lê Quang H chết là do sốc chấn thương vùng sọ - mặt kết hợp ngạt nước. Nồng độ cồn trong máu là 230,2mg/100ml máu.
T bị 01 vết thương ở khuỷu tay phải dài 02cm; trầy xước da ở khuỷu tay trái, gối trái, bàn chân phải; 1/3 dưới cẳng chân trái sưng nề. T điều trị tại Bệnh viện đa khoa quốc tế Hải Phòng từ ngày 04/10/2021, đến ngày 07/10/2021 ra viện. Các thương tích đã phục hồi hoàn toàn nên T từ chối giám định thương tích.Tại cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận hành vi như nội dung nêu trên.
Vật chứng của vụ án: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng là tài sản của Đinh Quang T nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương đã trả cho T quản lý, sử dụng. Xe mô tô biển kiểm soát 34B3-601.10, giấy đăng ký của xe mô tô biển kiểm soát 34B3-601.10, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Lê Tuấn Asinh năm 1993, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương cho Đinh Quang T mượn nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương đã trả lại cho anh Tuấn A quản lý, sử dụng. Xe mô tô biển kiểm soát 16R7-4710, giấy đăng ký của xe mô tô biển kiểm soát 16R7-4710, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Lê Quang H nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương đã trả cho anh Lê Quang H sinh năm 1985, trú tại thôn Đ, xã H, huyện An Dương, Hải Phòng (là anh trai của anh Hải) quản lý, sử dụng.
Về dân sự: Bị can Đinh Quang T đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Lê Quang H số tiền 200.000.000 đồng. Gia đình anh H không có yêu cầu, đề nghị gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can T. Anh Lê Tuấn A đã nhận lại xe mô tô biển kiểm soát 34B3-601.10, không yêu cầu Đinh Quang T khắc phục, sửa chữa.
Tại phiên tòa: Bị cáo trình bày thống nhất về hành vi như đã nêu trên, đồng ý với nội dung Sơ đồ và Biên bản khám nghiệm hiện trường; Kết luận giám định; không có ý kiến hay khiếu nại gì. Ông Quỵnh đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; phần dân sự đã bồi thường xong, không yêu cầu gì khác.
Bản Cáo trạng số 70/2022/CT-VKS ngày 22/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương truy tố Đinh Quang T về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự (BLHS). Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của BLHS xử phạt bị cáo từ 15 năm 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Dương và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Vào hồi 22 giờ 30 phút ngày 04/10/2021, Đinh Quang T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 34B3-601.10 đi trên đường liên xã theo hướng xã Lê Lợi đi xã Quốc Tuấn. Khi đến đoạn đường thuộc thôn Đoàn Tiến, xã Đặng Cương, huyện An Dương, do mải xem giờ, không chú ý quan sát phía trước nên xe mô tô do T điều khiển đi lấn sang phần đường ngược chiều va chạm vào xe mô tô biển kiểm soát 16R7-4710 do anh Lê Quang H điều khiển đúng phần đường, đi ngược chiều làm anh Hải ngã văng khỏi xe, rơi xuống mương An Kim Hải chết. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ nên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với hành vi đã gây ra. Với hành vi nêu trên, bị cáo đã phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS. Các chứng cứ xác định bị cáo không có tội bị loại trừ.
Về lỗi: Trong vụ án này bị hại có một phần lỗi là điều khiển phương tiện tham gia giao thông khi nồng độ cồn trong cơ thể vượt quá quy định cho phép.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo đã bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của BLHS; người đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ, bị cáo có ông nội Đinh Quang Thổn là liệt sỹ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.
Về hình phạt: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo mà không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vậy nên xem xét cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung; áp dụng Điều 65 của BLHS cho bị cáo được hưởng án treo và xử phạt bằng mức khởi điểm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Không áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 260 của BLHS đối với bị cáo.
Về những vấn đề khác: Vụ án không có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội mới nên Hội đồng xét xử không phân tích chứng cứ để xem xét việc khởi tố hay yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xét. Do Tòa án áp dụng hình phạt tù nhưng được hưởng án treo nên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Đinh Quang T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Đinh Quang T cho Ủy ban nhân dân xã Đồng Thái, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
- Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
- Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
- Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
- Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đinh Quang T.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo Đinh Quang T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và bà Chiến có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án; anh Hưng có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người ĐDHP của bị hại; - VKSND huyện An Dương; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan điều tra CA huyện An Dương; - Cơ quan THAHSCA huyện An Dương; - TAND thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS huyện An Dương; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Dũng |