- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 01(một) năm 10 (mười) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 22/4/2022.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:67/2022/HS- ST Ngày 17-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Thiện
Ông Diêm Đăng Hoạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Lan Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên .
Ngày 17 tháng 8 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, điểm cầu thành phần Trại giam công an tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2022/TLST- HS ngày 19 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2022/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh ngày 16 tháng 4 năm 1962
Tên gọi khác: không; nơi ĐKHK: thôn Ng, xã Lo, huyện Y, tỉnh B; chỗ ở hiện nay: tổ dân phố T, thị trấn Nh, huyện T, tỉnh B; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 9/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Ph và bà: Nguyễn Thị Th; vợ: Phạm Thị Th; con: có 02 con, con lớn sinh năm 1986, con nhỏ sinh năm 1989; tiền sự: không; tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 29 ngày 01/10/2018 của Toà án nhân dân huyện T xử phạt Nguyễn Văn H 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; phạt bổ sung 5.000.000 đồng. Chấp hành xong án phí ngày 24/12/2018 và hình phạt bổ sung ngày 04/3/2021, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/12/2021; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 58 ngày 09/8/2013 của Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh B xử phạt Nguyễn Văn H 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2013, chấp hành xong án phí ngày 21/02/2014. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1986 (có mặt)
Nơi cư trú: tổ dân phố Ti, thị trấn Nh, huyện T, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 21/4/2022, Nguyễn Văn H, sinh năm 1962, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ở thôn Ng, xã L, huyện Y, tỉnh Bắ (chỗ ở hiện nay ở tổ dân phố T, thị trấn Nh, huyện T, tỉnh B) đi bộ từ nhà ra ngã tư thị trấn Nh, huyện T mục đích mua ma túy về để sử dụng. Khi ra đến ngã tư thị trấn Nh, H gặp một người lái xe ôm không biết tên, tuổi, địa chỉ, H nhờ người lái xe ôm này mua cho H 900.000 đồng tiền ma túy Heroine và ma túy hồng phiến, người đàn ông đó đồng ý. H đưa tiền cho người đàn ông lái xe ôm, người đó cầm tiền và đi đâu đó một lúc rồi quay lại đưa cho H cho một túi nilon màu xanh bên trong đựng 03 đoạn ống nhựa màu trắng, bên trong mỗi đoạn đựng 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ ma túy tổng hợp và 20 gói giấy đựng ma túy Heroin. H cầm gói ma túy về nhà với mục đích sử dụng dần. Sáng ngày 22/4/2022; H bỏ một gói ma túy Heroine ra sử dụng, đến khoảng 8 giờ 30 phút cùng ngày, H cầm số ma túy còn lại rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 12S1-151.80 đi ăn sáng. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh B thì bị lực lượng Công an tỉnh B phối hợp Công an huyện T kiểm tra; do hoảng sợ, H xuống xe và nắm gói ma túy bằng hai tay. Lực lượng Công an khống chế và kiểm tra H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bao gồm:
+ Thu giữ trên tay của Nguyễn Văn H 01 túi nilon màu xanh một đầu có rãnh khóa nhựa, có viền màu đỏ, bên trong đựng 03 đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu bên trong mỗi đoạn đều đựng 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ nghi là ma túy; 10 gói giấy bạc mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng, bên trong mỗi gói đều chưa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy Heroine; 09 gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng bên trong mỗi gói giấy đều đựng các chất cục bột màu trắng nghi là ma túy Heroine.
Tất cả vật chứng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT”.
Thu giữ của Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động nhã hiệu Nokia màu trắng; seri 357332088303900; 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12S1-15180 và số tiền 2.690.000 đồng.
Sau khi bắt quả tang, Cơ quan điều tra đã tiến hành test nhanh ma túy đối với Nguyễn Văn H, kết quả Nguyễn Văn H dương tính với ma túy Heroine.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn H, Quá trình khám xét Cơ quan điều tra thu giữ trên kệ tivi (đặt cạnh cửa ra vào) nhà Nguyễn Văn H 01 cân điện tử màu trắng bạc đã qua sử dụng, mặt sau dán tem có chữ “QC.PASS”
Tại kết luận giám định số 692/KL-KTHS ngày 27/4/222 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B Kết luận:
Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định:
Trong 01 (một) túi ni lon màu xanh một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ:
- 03 (ba) viên nén hình tròn màu hồng đỏ đựng trong 03 (ba) đoạn ống nhựa được màu trắng được hàn kín hai đầu là ma túy, có tổng khối lượng 0,304 gam, loại Methaphetamine.
- Chất cục bột màu trắng đựng trong 09 (chín) gói giấy đều có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng là ma túy, có tổng khối lượng 0,353 gam, loại Heroine.
- Chất cục bột màu trắng đựng trong 10 (mười) gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu trắng là ma túy, có tổng khối lượng 0,415 gam, loại Heroine.
Tại Cáo trạng số: 59/CT- VKS ngày 18/7/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố Nguyễn Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, x khoản 1, 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 22 tháng tù đến 24 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 22/4/2022. Không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo H, ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Ch trình bày: anh là con của bị cáo H, ngày 21/4/2022 anh có cho bị cáo H là bố đẻ của anh mượn chiếc xe mô tô Honda Wave biểm kiểm soát 12S1-151.80 để lấy phương tiện đi lại. Đến ngày 22/4/2022 anh có nhận được tin bố anh bị bắt về tội ma túy và đã bị cáo quan công an thu giữ chiếc xe trên. Chiếc xe bị thu giữ là tài sản của anh, đến nay anh đã nhận lại chiếc xe và không có yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay những người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên họ đã có lời khai trong quá trình điều tra. Sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về tội danh và hình phạt: Tại phiên toà, bị cáo có mặt đã hoàn toàn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như quyết định truy tố đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định, phù hợp lời khai của người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ do Cơ quan điều tra thu thập về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 22/4/2022, tại đoạn đường thuộc thôn Đ, xã Tâ, huyện T, tỉnh B; Cơ quan điều tra Công an tỉnh B phối hợp với Công an huyện T bắt quả tang Nguyễn Văn H, sinh năm 1962, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ở thôn Ng, xã L, huyện Y, tỉnh B (chỗ ở hiện nay ở tổ dân phố T, thị trấn Nh, huyện T, tỉnh B) có hành vi tàng trữ trái phép 0,768 gam ma túy Heroine và 0,304 gam Methaphetamine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo đã tàng trữ trái phép 02 loại ma túy là 0,768 gam ma túy Heroine và 0,304 gam Methaphetamine với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy, bản Cáo trạng truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: bị cáo H là người có nhân thân không tốt đã nhiều lần bị Tòa án kết tội bằng bằng án.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 29 ngày 01/10/2018 của Toà án nhân dân huyện T xử phạt Nguyễn Văn H 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 5.000.000 đồng. Bị cáo H chấp hành xong án phí ngày 24/12/2018 và hình phạt bổ sung ngày 04/3/2021, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/12/2021. Bị cáo H chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị có có thời gian tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc được hưởng chế độ chính sách theo Quyết định số 62/2011/QĐ- TTg ngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ là người có công với cách mạng. Bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Văn Ph được Hội đồng cố vấn Chính phủ cách mạng Lâm thời cộng hòa miền nam Việt Nam tặng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Từ những phân tích, đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo hình phạt tù tương xứng nhằm giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo vừa chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, không có tài sản nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho H tại ngã tư thị trấn Nh, huyện T, tỉnh B, H không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu, do trời tối H không nhìn rõ đặt điểm của người đàn ông này, Cơ quan điều tra đã làm việc với Công an thị trấn Nh nhưng do không đủ thông tin nên không có căn cứ để xác định xử lý đối tượng bán ma túy cho H.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn H, ngày 29/6/2022 Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.500.000 đồng.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12S1-151.80, quá trình điều tra đã xác định được chiếc xe mô tô này là do H mượn của con trai là anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố T, thị trấn Nh, huyện T, tỉnh B để đi lại, anh Ch không biết H đã sử dụng chiếc xe mô tô để đi mua ma túy nên anh Ch không vi phạm pháp luật, ngày 21/6/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Ch.
Đối với chiếc điện thoại di động nhã hiệu Nokia màu trắng; seri 357332088303900; 01 chiếc cân điện tử màu trắng bạc đã qua sử dụng, mặt sau dán tem có chữ “QC.PASS” và số tiền 2.690.000 đồng là tài sản của bị cáo H không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo H.
Về vật chứng: Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” đã được niêm phong, bên trong có 01 (một) túi ni lon màu xanh một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ: 03 (ba) mẫu viên nén màu hồng đỏ đựng trong 03 (ba) đoạn ống nhựa được màu trắng được hàn kín hai đầu là ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định 0,284 gam; Mẫu chất cục bột màu trắng đựng trong 09 (chín) gói giấy đều có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng là ma túy Heroine, còn lại sau giám định 0,300 gam; Mẫu chất cục bột màu trắng đựng trong 10 (mười) gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu trắng là ma túy Heroine, còn lại sau giám định 0,352 gam là vật chứng cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nhưng bị cáo là người có công với cách mạng nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là có căn cứ cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 1, 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 01(một) năm 10 (mười) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 22/4/2022.
2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” đã được niêm phong, bên trong có 01 (một) túi ni lon màu xanh một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ: 03 (ba) mẫu viên nén màu hồng đỏ đựng trong 03 (ba) đoạn ống nhựa được màu trắng được hàn kín hai đầu là ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định 0,284 gam; Mẫu chất cục bột màu trắng đựng trong 09 (chín) gói giấy đều có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng là ma túy Heroine, còn lại sau giám định 0,300 gam; Mẫu chất cục bột màu trắng đựng trong 10 (mười) gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu trắng là ma túy Heroine, còn lại sau giám định 0,352 gam.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01chiếc điện thoại di động nhã hiệu Nokia màu trắng; seri 357332088303900; 01 chiếc cân điện tử màu trắng bạc đã qua sử dụng, mặt sau dán tem có chữ “QC.PASS” và số tiền 2.690.000 đồng.
3. Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh B; - VKSND tỉnh B; - Sở tư pháp tỉnh B; - VKSND huyện T; - Công an huyện T; - Chi cụcTHADS huyện T; - Bị cáo; NCQLNVLQ; - Lưu Hs, Vp. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Oanh |