- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Hà T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2022/HS-ST Ngày 23/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mong Thái Dương và bà Vi Thị Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Hải Yến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong tham gia phiên toà:
Ông Lương Hoài Nam, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 75/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo: Hà T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 11/12/1990, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Nguyên trồng trọt; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hà Văn D (Đã chết); con bà: Phan Thị C; vợ: Lê Thị L (Đã ly hôn); con: Có 1 người; tiền án: Không; Tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/5/2008 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 18 năm tù về tội “Giết người” và 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội là 18 năm tù, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 12/02/2018. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/4/2022. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Hà T: Bà Tạ Thị A; Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý, chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2 thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Lô Văn C, sinh năm 1994; trú tại bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 25/4/2022 Hà T đi lên xã Tri Lễ, huyện Quế Phong mua ma túy với Thò Bá Pó, trú tại bản Mường Lống, xã Tri Lễ, huyện Quế Phong để sử dụng; Mua được ma túy bị cáo đi về đến xóm Tam Tiến, xã C thì bị bắt quả tang. Thu của Hà T 01 gói thuốc lá thăng long màu vàng, bên trong đựng một gói ni lông màu xanh có nhiều viên nén màu hồng.
Bản kết luận giám định số 567/KL- KTHS( Đ2-MT) ngày 01/5/2022 của phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Hà T gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). Số viên nén màu hồng thu giữ của Hà T có tổng khối lượng 18,98 g (Mười tám phẩy chín mươi tám gam).
Tại phiên tòa bị cáo Hà T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cụ thể: Ngày 25/4/2022 tại xã C, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, Hà T đang cất giấu trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang, thu 18,98 gam Methamphetamine. Mục đích bị cáo cất giấu ma túy là để sử dụng.
Cáo trạng số 80/CT-VKS- QP ngày 27/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Hà T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đối với Thò Bá P theo lời khai của bị cáo là người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo; cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong đã xác minh, nhưng hiện nay Thò Bá P không có mặt tại địa phương, nên chưa đủ căn cử để khởi tố. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào đủ căn cứ sẽ xem xét, giải quyết bằng một vụ án khác.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; xử phạt: Bị cáo Hà T từ 07 đến 08 năm tù. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại; miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Người bào chữa không tranh luận về tội danh, đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo từ 06 đến 07 năm tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Mặc dù không được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, nhưng ngày 25/4/2022, tại xã C, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, bị cáo Hà T đang cất giấu trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang. Thu của bị cáo 18,98 gam Methamphetamine. Bị cáo tàng trữ ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Do đó bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, mà còn làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, nòi giống của con người, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng; bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy cần xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong đề nghị xử phạt bị cáo Hà T từ 07 đến 08 năm tù là hợp lý; người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 đến 07 năm tù là thấp so với số lượng ma túy thu giữ và nhân thân của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có tài sản gì đáng giá. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 18,98 gam Methamphetamine, cơ quan điều tra lấy đi giám định chất ma túy 1 gam; còn lại 17,98 gam; đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Hà T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Phạt Hà T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 25/4/2022.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ một phong bì bên trong đựng 17,98 (Mười bảy phẩy chín mươi tám) gam Methamphetamine, bao ni lông màu xanh, bao thuốc lá thăng long và vỏ phong bì thu giữ vật chứng ban đầu. Chi tiết vật chứng được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận ngày 13/7/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong với Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
Căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hà T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Hà T có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Bị cáo. - VKSND huyện Quế Phong. -VKSND tỉnh Nghệ An. - Công an huyện Quế Phong. - Chi cục THA DS huyện Quế Phong. - Trại tạm giam; trại giam. - Sở tư pháp; UBND xã nơi bị cáo cư trú. - Lưu VP,THAHS, Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Công Phong |