vanban.org

Bản án 67/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thái Bình Tuyên án 19/08/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 44/2022/HS-ST ngày 18/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thái Bình về phần hình phạt đối với bị cáo, cụ thể như sau:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 1 (một) năm tù về tội: “Chứa mại dâm", thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 16/12/2021 đến ngày 24/12/2021. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung công quỹ nhà nước, (bị cáo đã nộp đủ). [2] Về án phí phúc … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị L chứa mại dâm - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 44/2022/HS-ST ngày 18/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thái Bình về phần hình phạt đối với bị cáo, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 327 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2022/HS-PT
Ngày 19/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Toàn Nghĩa.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Lan Anh, bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà

Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/HSPT ngày 30/6/2022 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 44/2022/HS-ST ngày 18/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thái Bình.

* Bị cáo: Nguyễn Thị L, sinh năm 1962, nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân K (đã chết) và bà Lê Thị Đ; Có chồng là anh Trần Văn M - đã ly hôn; Có 4 con.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ 16/12/2021 đến ngày 24/12/2021 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Trong vụ án này còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, do không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị L được con gái là chị Trần Thị Đ1 giao làm quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của nhà nghỉ P có địa chỉ tại thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tháng 8/2021 Đinh Thị X đến xin L làm nhân viên giúp việc cho nhà nghỉ P. Đến đầu tháng 12/2021 do cần tiền để về quê ăn tết, nên X nhờ L môi giới để X bán dâm cho khách tại nhà nghỉ P và thỏa thuận L thu của khách mua dâm 250.000 đồng/người/lần chia lại cho X 150.000 đồng, L hưởng lợi 100.000 đồng/người/lần. Khoảng 21 giờ ngày 15/12/2021, Bùi Văn T cùng Vũ Đình Thái rủ nhau đến nhà nghỉ P để mua dâm. T1 đưa cho T 250.000 đồng để T trả tiền mua dâm. Đến nơi, T và T1 gọi L ra mở cửa. T hỏi L “có nhân viên không?” hiểu ý T hỏi, L trả lời “có một con giúp việc già đấy, mày có đi thì đi”. T hỏi giá mua dâm, L trả lời: “250.000đồng một lượt cả tiền phòng”. Thấy L nói người bán dâm đã già, nên T đưa cho L 500.000 đồng và nói “cháu đãi bạn cháu”. L cầm tiền và trả lại T 250.000 đồng rồi chỉ T1 lên phòng 201 của nhà nghỉ đợi. L gọi Đinh Thị X vào phòng 201 để bán dâm cho T1. X lấy bao cao su ở phòng lễ tân đi vào phòng 201 còn T và L ngồi nói chuyện ở quầy lễ tân. Đến 22 giờ cùng ngày khi X và T1 đang quan hệ tình dục thì tổ công tác Công an huyện T tiến hành kiểm tra phát hiện và bắt quả tang, thu giữ tại đầu dương vật của T1 01 bao cao su có chất dịch nhầy; thu tại đầu giường nơi T1 và X quan hệ tình dục 01 vỏ đựng bao cao su đã bị xé mép. Thu của Nguyễn Thị L 500.000 đồng (là tiền L thu của T); thu của T số tiền 250.000 đồng là tiền thừa L trả lại cho T. Lực lượng công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L và quản lý, niêm phong những đồ vật, tài liệu có liên quan gồm: + 1 bao cao su đã qua sử dụng, 1 vỏ bao cao su nhãn hiệu Romax đã bị xé rách + 750.000đ gồm 500.000đ thu giữ của L và 250.000đ của T.

Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2022/HS-ST ngày 18/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thái Bình đã quyết định:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội "Chứa mại dâm".

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 327, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù giam, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ đi thời gian đã tạm giữ từ ngày 16/12/2021 đến ngày 24/12/2021. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, về án phí và quyề n khá ng cá o.

Ngày 31/5/2022 bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tò a phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm, bị cáo đã nộp tiền phạt, đề nghị Tòa phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm và gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

Về nội dung kháng cáo: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, cùng với vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cấp sơ thẩm đã quyết định bị cáo phạm tội Chứa mại dâm là có căn cứ và đúng pháp luật.

Bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình tố tụng bị cáo thành khẩn khai nhận, có thái độ ăn năn, hối cải, bị cáo là phụ nữ, tuổi đã cao, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 1 năm 6 tháng tù là có phần quá nghiêm khắc. Hơn nữa sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tự giác nộp số tiền phạt 10 triệu đồng, vì vậy cần xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt, xử bị cáo mức khởi điểm của khung hình phạt là thỏa đáng.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí phúc thẩm:

Kháng cáo đượ c chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 44/2022/HS-ST ngày 18/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thái Bình về phần hình phạt đối với bị cáo, cụ thể như sau:

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 327, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 1 (một) năm tù về tội: “Chứa mại dâm", thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 16/12/2021 đến ngày 24/12/2021. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung công quỹ nhà nước, (bị cáo đã nộp đủ).

[2] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 19/8/2022.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ