- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Sĩ H.
- Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 67/2022/HNGĐ-ST Ngày: 02/3/2022 V/v “ Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Lệ
2. Ông Phan Văn Duy
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Dũ, Kiểm sát viên.
Trong ngày 02 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 166/2021/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182A/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Sĩ H, sinh năm xxxx, có mặt
Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre;
2. Bị đơn: Phan Thị T, sinh năm xxxx, vắng mặt
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 4 năm 2021 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn anh Nguyễn Sĩ H trình bày: Anh H và chị T kết hôn năm 2005, có đăng ký kết hôn, sống hạnh phúc đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn gia đình, do
1 chị T đi buôn bán có quan hệ chung sống như vợ chồng với người khác, chị T tự ký giấy ly thân không sống chung với anh H từ năm 2017 cho đến nay, không liên lạc. Hiện nay chị T chung sống vợ chồng với người khác, nên anh H yêu cầu ly hôn. Vợ chồng có 01 con chung Nguyễn Thị Đài T1, sinh ngày xx/x/xxxx, hiện sống với anh H. Anh H yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ chị Phan Thị T vắng mặt không có lời trình bày.
* Ý kiến của Viện kiểm sát: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị căn cứ Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình, xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Sĩ H, anh H được ly chị Phan Thị T. Về con chung, giao con chung Nguyễn Thị Đài T1, sinh ngày xx/x/xxxx cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T chưa phải cấp dưỡng nuôi con do anh H chưa yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Việc nộp đơn khởi kiện, thụ lý đơn và thẩm quyền giải quyết của Tòa án đúng quy định; Việc thu thập tài liệu chứng cứ, thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Phan Thị T được Tòa án triệu tập hợp lệ phiên tòa lần thứ hai vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T.
Về hôn nhân, anh Nguyễn Sĩ H và chị Phan Thị T tự nguyện kết hôn, được UBND xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 26/3/2008 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn gia đình như anh H trình bày, nên anh H yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn. Tòa án triệu tập chị T nhiều lần đến Tòa để hòa giải hàn gắn tình cảm, nhưng chị T không đến, cũng không gởi cho Tòa án ý kiến của chị về việc anh H yêu cầu ly hôn, cho thấy chị T không muốn duy trì hôn nhân. Xét tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, có căn cứ theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H.
Về nuôi con chung, từ khi chị T bỏ đi, con chung sống với anh H và ông bà nội của cháu đã ổn định cuộc sống, nguyện vọng của cháu Nguyễn Thị Đài T1 muốn tiếp tục sống với cha. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung
2 của anh H phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh H không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung, Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, ghi nhận đương sự không yêu cầu giải quyết.
Án phí sơ thẩm: Anh H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Sĩ H.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Sĩ H và chị Phan Thị T.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Đài T1, sinh ngày xx/x/xxxx cho anh Nguyễn Sĩ H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Phan Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Sĩ H phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0018633 ngày 13/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện GCĐ; - Chi cục THADS huyện GCĐ; - UBND xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; - Các đương sự; - Lưu: HS, AV | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Dũng 3 |