- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị H - Nguyễn Hữu Đ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Hữu Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2022/HNGĐ - ST Ngày: 28/07/2022 “Về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Văn Khánh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Sơn
Bà Phùng Thị Quỳnh Hòe
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 07 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Cửa Lò xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 46/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 05 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 15 tháng 07 năm 2022 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1982. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
Nơi ĐKHKTT: Khối 04, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An
Nơi tạm trú: 241/4, khu phố 02, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1974. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
Nơi ĐKHK và trú tại: Khối 04, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 12/05/2022, tại bản tự khai nguyên đơn chị Đỗ Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Hữu Đ kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 04 năm 2002 tại UBND phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hòa thuận đến đầu năm 2011, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu
- 1 -
thuẫn do tính cách của hai vợ chồng không hợp nhau, không tôn trọng lẫn nhau. Khoảng tháng 06 năm 2011, chị Đỗ Thị H vào trong Nam để làm ăn sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Do vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Đỗ Thị H xin được ly hôn với anh Nguyễn Hữu Đ.
Về quan hệ con chung: Chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Hữu Đ có 02 con chung là cháu Nguyễn Phương N, sinh ngày 25/04/2004 và cháu Nguyễn Phương T, sinh ngày 22/08/2007. Hiện nay cả hai cháu đều đang ở với anh Nguyễn Hữu Đ. Sau khi ly hôn chị H có nguyện vọng giao cháu Phương Th cho anh Nguyễn Hữu Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Cháu Phương N đã trên 18 tuổi trưởng thành, không yêu cầu tòa án giải quyết. Do công việc không ổn định nên chị H xin tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị Đỗ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ, vợ chồng không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị đơn anh Nguyễn Hữu Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Hữu Đ và chị Đỗ Thị H kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 04 năm 2002 tại UBND phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hòa thuận đến đầu năm 2011, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách của hai vợ chồng không hợp nhau, không tôn trọng lẫn nhau. Khoảng tháng 06 năm 2011, chị Đỗ Thị H vào trong Nam để làm ăn sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Do vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Đỗ Thị H xin được ly hôn, anh Nguyễn Hữu Đ hoàn toàn thống nhất ly hôn để giải thoát, sớm ổn định cuộc sống cả hai bên.
Về con chung: Anh Nguyễn Hữu Đ và chị Đỗ Thị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Phương N, sinh ngày 25/04/2004 và cháu Nguyễn Phương T, sinh ngày 22/08/2007. Hiện nay cả hai cháu đều đang ở với anh Nguyễn Hữu Đ. Anh Đ thống nhất với quan điểm của chị Đỗ Thị H. Anh Đ là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Phương T; Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Đỗ Thị H. Cháu Phương N đã trên 18 tuổi trưởng thành, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và khoản nợ: Anh Nguyễn Hữu Đ thống nhất với quan điểm của chị Đỗ Thị H. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy
- 2 -
định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 55, 81, 82. 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa Đỗ Thị H và anh Nguyễn Hữu Đ. Về con chung: Đối với cháu Nguyễn Phương N, sinh ngày 25/04/2004, đã trên 18 tuổi trưởng thành nên miễn xét; Giao cháu Nguyễn Phương T, sinh ngày 22/08/2007 cho anh Nguyễn Hữu Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Đỗ Thị H. Về tài sản chung, nợ chung: Miễn xét.
Về án phí: Chị Đỗ Thị H, anh Nguyễn Hữu Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Đây là vụ án hôn nhân gia đình do chị Đỗ Thị H yêu cầu, nơi ĐKHKTT và trú tại của bị đơn anh Nguyễn Hữu Đ ở khối 04, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Hữu Đ. Tuy nhiên chị H và anh Đ có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Hữu Đ theo quy định.
. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Hữu Đ kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 19/04/2002 tại UBND phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An, đây là hôn nhân hợp pháp. Chị H và anh Đ đều thừa nhận vợ chồng chung sống hòa thuận đến đầu năm 2011 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách của hai vợ chồng không hợp nhau, không tôn trọng lẫn nhau. Khoảng tháng 06 năm 2011, chị Đỗ Thị H vào trong Nam để làm ăn sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Theo kết quả xác minh tại UBND phường Nghi Hòa, thì vợ chồng chị H, anh Đ có phát sinh mâu thuẫn nhưng nguyên nhân cụ thể UBND phường không nắm được. Chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Hữu Đ thống nhất ly hôn và có đơn đề nghị tòa án không tiến hành hòa giải, nhanh chóng đưa vụ án ra xét xử để hai bên sớm ổn định cuộc sống. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Đỗ Thị H, anh Nguyễn Hữu Đ thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt
- 3 -
được.Việc thuận tình ly hôn của chị H, anh Đ là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Vì vậy, căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Hữu Đ.
- Về quan hệ con chung: Chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Hữu Đ có 02 con chung là cháu Nguyễn Phương N, sinh ngày 25/04/2004 và cháu Nguyễn Phương T, sinh ngày 22/08/2007. Hiện nay cả hai cháu đều đang ở với anh Nguyễn Hữu Đ. Đối với cháu Nguyễn Phương N đã trên 18 tuổi trưởng thành, HĐXX không xem xét, giải quyết. Đối với cháu Nguyễn Phương T, chị H và anh Đ thống nhất giao cháu Phương T cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Xét thấy yêu cầu của chị Đỗ Thị H, anh Nguyễn Hữu Đ là chính đáng và phù hợp với nguyện vọng của cháu là được với bố. Để cháu Nguyễn Phương T phát triển đầy đủ thể chất, tinh thần, ổn định cuộc sống nên giao cháu Nguyễn Phương T cho anh Nguyễn Hữu Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, do công việc không ổn định, chị Đỗ Thị H xin tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Nguyễn Hữu Đ thống nhất với ý kiến của chị H. Do đó, Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Đỗ Thị H.
- Về quan hệ tài sản chung và khoản nợ: Chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Hữu Đ thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu 75.000 đồng, anh Nguyễn Hữu Đ phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Hữu Đ.
2. Về con chung: Đối với cháu Nguyễn Phương N, sinh ngày 25/04/2004 đã trên 18 tuổi trưởng thành, HĐXX không xem xét, giải quyết. Giao cháu Nguyễn Phương T, sinh ngày 22/08/2007 cho anh Nguyễn Hữu Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Đỗ Thị H.
Chị Đỗ Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Anh Nguyễn Hữu Đ cùng các thành viên trong gia đình không được cản
- 4 -
trở chị Đỗ Thị H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Chị Đỗ Thị H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con chung các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quan hệ tài sản chung: Miễn xét.
4. Về nghĩa vụ chung về tài sản: Miễn xét.
5. Về án phí: Buộc chị Đỗ Thị H phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò. Trả lại cho chị Đỗ Thị H 225.000đ (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001010 ngày 24 tháng 05 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò.
Anh Nguyễn Hữu Đ phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND thị xã Cửa Lò; - Chi cục THADS thị xã Cửa Lò; - UBND phường Nghi Hải; - Lưu hồ sơ vụ án. - 5 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Khánh |